25 tháng 2, 2012




Đứng ngoài mũi tàu, cuốn dây neo lại cho gọn để cất vào hầm chứa neo, chuẩn bị cho tàu rời bến, chợt nghe có tiếng va chạm bên hông tàu, tôi ngừng tay và bước sang ngó, thấy Hải vừa cặp xuồng vào tàu. Hải ngước nhìn tôi cười thật
tươi:
- Chạy chưa anh Vinh !

Vinh là tên của em tôi.
Là một tù nhân chính trị, tôi dùng lý lịch của em tôi ẩn trốn trên tàu này. Ghe tàu san sát nhau lúc đậu bến, không biết ai đang là tai mắt cho bọn công an cộng sản, hay lũ "bò vàng" theo cách gọi của dân chúng. Từ dạo ấy, tôi đóng vai thằng Vinh phụ việc trên tàu chở hàng với Vũ. Chúng tôi hầu như chân không, áo quần bê bết dầu máy, làm như ngố ngáo dốt chữ nghĩa. Thèm nhớ sách báo lắm, nhưng không dám chứa trên tàu hay tẩn mẩn đọc.
Nhờ bè bạn che dấu tôi trên tàu, và nhờ chiếc tàu tôi có nơi lẩn tránh bọn công an cộng sản. Đây là mái ấm gia đình trong lúc phải lưu lạc trên sông nước. Một mái ấm gia đình trên thân tàu có chừng tám mét chiều dài và ba mét bề ngang.
Từ cái hầm nhỏ, dùng chứa neo và dây, ở sát ngoài mũi đến hầm máy, khoang tàu để mở trống. Với khoang tàu không che kín bên trên như thế, sức chứa của khoang tàu được tận dụng và tiện lợi cho việc lên xuống hàng hoá, nhưng tàu dễ bị chìm khi sóng to tràn ụp vào. Bên trên thành khoang chứa hàng, có đóng miếng gổ bề ngang chừng gang tay. Hai miếng be gổ nhỏ hẹp này chạy dọc từ mũi đến mui, vừa giúp kềm vỏ tàu thêm cứng chắc, vừa làm lối đi từ mui đến mũi. Lối đi bên trên thành tàu này rất cần thiết lúc khoang tàu chở đấy hàng hoá, nhưng có phần nguy hiểm khi tàu đang chạy trên sóng lắc lư và mặt gổ bị ướt trơn trợt. Người đi phải quen bước, để khỏi bị trợt chân rơi xuống nước và bị nước cuốn hút vào dưới lườn tàu, nơi cánh quạt của tàu đang quay để đẩy tàu chạy tới.
Tiếp sau phần khoang chứa hàng, đến phía sau đuôi, thì khoang tàu được lót ván che kín bên trên; nhưng các miếng ván này có thể lấy ra cho trống để xuống kiểm soát hay sửa chửa động cơ. Bên dưới sàn gổ là hầm máy, nơi đặt động cơ của tàu. Căn phòng bên trên sàn gổ thường gọi chung chung là mui tàu. Mui tàu giống như cái hộp bằng gổ, nhưng là căn nhà yêu quý trên mặt nước của chúng tôi. Trong mui tàu, một góc nhỏ cận phía sau đuôi, được ngăn ra để ngồi nấu ăn, khu vực còn lại làm chỗ ăn và cũng là chỗ ngủ của chúng tôi. Hai bên vách của mui tàu có khung cửa sổ. Phía sau và trước có cửa để chui ra phía sau lái hay tuột xuống khoang chứa hàng hoá đàng trước.. Nóc mui không cao lắm, chỉ đũ cao để ngồi hay đi lom khom mà thôi. Thực ra, trong cái hầm có diện tích dưới ba mét vuông như thế này, thì không mấy khi cần phải "đi", chỉ cần lết người hay vói tay qua lại là có thể lấy được vật dụng khi cần. Nóc mui có một khung vuông trống, có nấp đậy lại để che mưa gió khi cần. Khi mở nấp mui, đứng trên hầm máy thân người từ ngực trở lên sẽ được ló cao bên trên nóc mui, dễ dàng xoay trở và nhìn các phương hướng quanh tàu.
Thuộc loại chuyên chở trong sông, nên mũi và thân tròn bầu để chứa được nhiều hàng hoá, cho nên tàu khó mà cắt sóng để chạy lẹ hay an toàn ngoài biển khơi. Với cấu trúc của thân tàu như thế, chiếc tàu của chúng tôi chỉ thích hợp để vận chuyễn hàng hoá trong sông hay ven biển khi êm sóng mà thôi.
Điều khiển tàu tuy còn luộm thuộm, bất tiện nhưng giúp che dầu âm mưu vượt biên, bớt bị đám công an tai mắt theo dỏi. Cho nên, tàu cần có người đứng gần máy để đổi số, giống như lái . . . máy cày trên ruộng đồng vậy! Vũ giõi về máy, đứng bên dưới lo phần chạy máy, sang số. Người giữ tay lái trên mui, thì chỉ có cái cần gia giảm tốc độ mà thôi, không thể đổi số cho tàu chạy lui hay chạy tới với số chậm lẹ cho thích ứng.

Không chờ tôi trả lời, Hải liếng thoắng tiếp:
- Dạ, có hai dì này xin có giang mấy anh…
Dì Năm hướng về người đàn bà ngồi vịn chặt hai tay vào thành xuồng, dáng như chưa quen sóng nước lắm:
- Tui với chị Bảy đây xin có giang ra ngoài xóm trạm nghen mấy chú.
Đang kiểm lại động cơ trong mui, nghe lời qua tiếng lại, Vũ đứng trên hầm máy nhóng người qua khung cửa trổ lên mui, ngó thấy dì Năm quen, nên dễ dải:
- Lên, lên đi hai dì, tụi tui phải chạy đi lấy nước đá ngay bây giờ ...
- Ê Hải, mấy đứa bây sáng nay nay lặn đâu mất hết vậy, có muốn vác nước đá hông vậy?
- Tụi nó chèo lợi đẳng trước hết rồi anh Vũ ơi, còn tui thì mắc chở hai dì này lại đây đây nè.

Hải đã quen nghề rồi, miệng nói tay lần chiếc xuồng ra phía sau đuôi tàu cho thấp, và giúp khách lên tàu. Dân đi buôn thường hay quá giang ghe tàu xuống xóm trạm, cái xóm có chợ quán nho nhỏ ở quanh đồn công an biên phòng, để mua lỉnh kỉnh các thứ tôm khô, cá khô về bán lại kiếm lời. Dì Năm đi buôn thuờng lắm, hầu như ghe tàu nào cũng biết bà dì này, nhưng người bạn của dì thì chúng tôi chưa từng gặp. Nhìn Vũ và dì Năm cùng giúp cho người đàn bà này lên tàu thì khó mà tin dì Bảy là bạn đi buôn, dân theo ghe tàu chuyên nghiệp. Bộ dạng thanh nhả và nhút nhát sóng nước như thế này, chắc là dân chỉ quen sống ở thành thị.

Khách rời xuồng xong, không cần hỏi han hay ai kêu bảo, Hải đã xếp xuôi đôi chèo lên xuồng, leo gọn lên tàu và vòng dây cột vào móc sau đuôi tàu để giòng chiếc xuồng của nó theo, cho khỏi mất công chèo đến hãng nước đá.
Thấy mọi người đã yên chỗ, tôi cuốn nhanh tay cho xong dây neo, rồi tháo lỏng sợi giây mũi, ngó Vũ đang đứng trên hầm máy chờ :
- Cho máy chạy được rồi, anh Tư!
Trong gia đình thì Vũ thứ Tư, và là một trong tám thằng ăn cơm chung với nhau khi còn trọ học ở Nội Trú. Năm 72, tôi và Phát (U.N.P.), cùng vào Trường Bộ Binh Thủ Đức và chung Đại Đội 32. ăn cơm chung ở …Nhà Bàn. Vũ theo nghành chuyên môn, về sửa động cơ trực thăng, bên Không Quân. Sau khi tôi rời nhà tù của bọn cộng sản về, gặp lại nhau thì Phát và Vũ tuần tự có vợ có con; tôi tôn lên làm đàn anh hết. Cả hai đều thứ Tư , tôi gọi đùa là anh Tư.

Cái máy dầu cặn gầm lên khởi động, rồi bắt trớn ngoan ngoản chạy ngay. Tiếng máy nổ ấm, nhịp nhàng thật dễ thương.
Động cơ tàu được lấy ra từ chiếc máy cày hiệu John Deer cũ, ráp vào tàu được gần hai năm nay rồi. Tám máy đẩy chiếc tàu trọng tải mười lăm tấn cũng không quá tệ. Hồi tháng trước đây thì cái head gasket bị cháy, tàu neo cả tuần để chờ xoay kiếm đồ phụ tùng. Theo bạn ghe đồn chỉ, Vũ mò sang Vĩnh Long tìm được người biết làm gasket. Dựa theo tấm giấy mà chúng tôi đồ theo hình dạng có đũ vị trí lổ ốc rảnh trong máy, kèm với miếng gasket cũ làm mẫu, người thợ già chế biến cái mới cho chúng tôi. Khó tính đến đâu, thấy miếng gasket sáng bóng, gồm nhiều lớp nhôm mỏng đã cắt ép tỉ mỉ cũng phải thán phục tài khéo tay của ông. Trong tình trạng khan hiếm phụ tùng lúc này, quả thật ông chính là vị cứu tinh, là đại ân nhân; còn việc bền được bao lâu thì đành chịu phó thác cho thời vận. Vũ đặt làm luôn ba cái để phòng hờ trên tàu và chúng tôi chỉ còn biết cầu nguyện sao ngày ra đi, cái máy nó vẫn thương giúp chúng tôi, chạy thật ngoan.

Năm trước, chúng tôi chạy tàu xuống đây để trốn đi, nhưng toán đưa đón người bị thất lạc nhau, phải huỷ bỏ kế hoạch vượt biên. Đem tàu quay trở về bến nhà thì chắc chắn là bị bắt ngay, chỉ còn cách là ẩn náu quanh quẩn. Một mặt, chúng tôi di chuyển tàu từ bờ này sang bến khác, một mặt ráo riết làm quen ghe tàu xung quanh tìm mối chở hàng hầu tránh tai mắt của tụi công an địa phương và kiếm cơm cháo sinh sống qua ngày.
Chở hàng nào cũng có cái sướng và cái khó riêng của nó!
Chở cá khô cho hợp tác xã thì nhẹ nhàng, khuân vác khoẻ re! Đến chừng giao xong hàng, dọn rửa ghe thì mới trắng mắt ra! Y hệt như là cái loài cộng phỉ; cái đám giòi chúng nó ăn bám, đụt khoét, rút trốn trong khô, rồi thừa cơ hội yên tĩnh, theo nhau chui ra, bò trắng trong khoang tàu, len lỏi cùng khắp kẻ kẹt dưới khoan tàu.
Dọn rửa tàu, thở hụt hơi, ngán ngẩm cái giống giòi bọ bẩn thỉu!
Còn cái mùi hôi khăm khẳm của khô thì thấm sâu trong gổ, nó ướp khắm trong da thịt!
Từ đó, chán ngán khô đến nổi, cứ thấy mặt cái lũ cộng nô và cái đám đón gió trở cờ là lại thấy đám giòi bò lúc nhúc. Thà uống rượu khan vẫn ngon hơn là cắn răng vào miếng khô "hợp tác xả".
Chở cây rừng, bốc vác nặng và trầy dập người chỉ là việc nhỏ, còn thua xa cái thời bị tù đày, mỗi chiều tối phải vác cây rừng về trại. Cái khó là chở ít thì trông không giống ai, không giống ghe tàu trong đoàn, bị nghi là tàu đi dọ đường để vượt biên. Vũ ngại rằng, để bị xét hỏi thì e chúng nó biết bắt tôi, nên đành phải chở cho giống như dân làm ăn. Chở nhiều, tàu khẩm nặng lấp xấp ngọn sóng, mà chúng tôi thì hảy còn non kinh nghiệm lèo lái lắm. Canh sóng gió, canh con nước trở, canh neo, sơ sẩy dễ bị chìm tàu lắm. Lo sợ mất ăn mất ngủ. Lên xong chuyến cây, anh em van vái tạ ơn thuỷ thần, đất trời và không ham đi làm chuyến thứ hai.
May sao, sau đó thì chúng tôi chạy chọt lo lót, kiếm được cái mối chở hải sản.
Bây giờ, chiếc tàu cần làm thêm cái mui lá để che tôm cá và nước đá trên phần trống của khoan tàu. Cũng là cái may, cái hay đưa đến, chúng tôi có lý do để che kín tàu, tiện lợi cho việc che giấu người khi ra xuất phát sau này.

Tàu có ba người. Anh Ba, anh rể của Vũ, về quê nhà thăm gia đình, nên mấy hôm nay tàu chỉ còn hai đứa chúng tôi. Vũ đứng máy và sang số, còn tôi lái và chịu mủi.
Chờ cho máy chạy đều tốt một lát, Vũ đứng ló người lên trên mui, vịn cần sang số và gọi vọng ra ngoài mũi tàu:
- Dọt được rồi!
Nghe tiếng Vũ, tôi tháo hẳn dây mũi, lấy sào chống xoay mũi tàu hướng ra ngoài sông rồi chạy lẹ trên miếng be của thành tàu xuống phần đuôi, leo lên mui giữ cần lái.

Chuyến đi, tàu đến hảng nước đá, lấy nước đá chở đem ra trạm thu mua ở ngoài biển. Chuyến về, chở hải sản đã được ướp nước đá xay trong thùng, chạy về giao cho công ty ở tỉnh. Mất từ bốn đến sáu giờ chạy từ sông ra biển, đến trạm thu mua. Tôm cá từ trạm thu mua về tới công ty hải sản, thì phải qua kiểm hàng và đi chuyển hàng lên bến. Hàng lên xong, dù hai hay ba giờ sáng cũng phãi lo rửa tàu cho sạch, không thì nước tôm cá chảy ra đã nằm ứ trong khoang cả ngày rồi, sẽ sình thối lên. Không làm biếng được! Mỗi chuyến, ba anh em chúng tôi xuống khoảng 150 cây nước đá. Cây nước đá nhẹ hơn bao xi-măng, nhưng khó vác hơn khi đi trên cái miếng ván gác từ trên bờ đến mủi tàu. Miếng ván bị nhồi lên sụp xuống bất chừng theo nhịp đi của nhiều người, và sóng thì cứ lắc lư con tàu. Cây nước đá vừa trơn lạnh, vừa cứng, sút tay, rớt cấn lên bàn chân trần không giày dép thì cũng đáng lo lắm. Thấy vậy, vác nước đá riết rồi quen, hết ngán. Mấy đứa trong nhóm Hải vác nước đá nghề lắm. Biết đám chèo xuồng túng quẩn, chúng tôi thường lấy cớ mướn vác tiếp nước đá, để mấy đứa nó kiếm ăn thêm. Nước đá khi giao cho trạm thì nhân viên đếm đầu cây. Cây đá dài ngắn họ biết, nhưng đã có ăn nhậu với nhau, họ làm lơ cho qua, miển đừng làm quá đáng. Nhờ có lý do phụ vác nước đá, nhóm trẻ chèo xuồng trà trộn trong tàu sẽ lén chặt nước đá và lòn dấu lên xuồng để đem đi bán. Tuỳ may mắn, tuỳ nhân viên hảng kiểm tra ở bến nhiều ít, mà lòn dấu được ít hay nhiều.

Hải ngồi thòng chân đong đưa, đùa với những cuộn sóng vòng lên sau đuôi tàu, trông chừng chiếc xuồng con của nó, than vản:
- Anh Vũ biết hông, chuyến rồi, tụi tui chia nhau hổng tới đâu hết, kỳ này...
- Ba đứa tụi bây, chặt hết bốn năm khúc nước đá mà mày nói hổng tới đâu. Nửa khúc thôi nghen mậy, ba anh em tụi tao có hủ tíu, có cà phê sửa đá và còn chơi cả thuốc ba số năm, tụi mày sạo tổ mẹ. Tới ... thấy bà, chớ mà hổng tới, mậy!
Bị Vũ ngắt lời, Hải cười hề hề, rồi lại kèo nài thêm:
- Hôm nào có lên tôm, anh cho tui vô hốt một mớ cho bà nội tui "bồi dưởng" nghen anh Vũ.
- Ừ,... mày lên kêu Ba Thơ xuống đây hốt tao với thằng Vinh luôn cho gọn. Giởn mặt hoài mậy. Bộ mày hỏng thấy mấy đứa áp tải, nó đứng thò lỏ cặp mắt nhìn chừng mấy cái thùng hàng à!

Ba Thơ coi bộ phận vận chuyến hải sản. Hắn ký giấy phép cho ra biển, ký sổ hàng của tàu vận chuyển, dĩ nhiên là phải theo nguyên tắc phổ thông ‘’đầu tiên’’, tức là tiền đâu. Cơ quan nào cũng thế, quan nào cũng vậy, biết điều có phong bì, quà biếu thì có chuyến; không thì neo tàu, húp cháo, nằm ngó sóng nước . . . ca vọng cổ.
Công việc thì chỉ có vậy, nhưng Ba Thơ thích đeo lủng lẳng cái cây súng ngắn K54, đủng đỉnh xuống bến tàu, lùng kiếm bắt tàu hải sản vi phạm luật để kiếm ăn thêm, hoặc hò hét đuổi đám xuồng đưa khách của Hải cho oai, cho ra vẻ có uy quyền từ cái văn phòng trên công ty xuống tới dưới bến cảng. Hắn rất hăng hái lao vào những công việc không phải của hắn như đi theo tàu công an tìm bắt tàu vượt biên. Cơ hội để vừa lập công, thêm thành tích, vừa được chia chát thêm tiền vàng ăn cướp từ những nạn nhân vượt biên bị chúng nó bắt.
- Ê Hải, bây giờ tao không có tôm tươi, tao có nồi mực kho nè, chịu thì vô đây làm miếng cơm với tao cho vui.
Nghe Vũ mời, Hải lẹ làng lau khô chân, chui tọt vào trong mui, quên mất phải trông chừng chiếc xuồng của nó, miệng ngọt xớt :
- Để đó em, em dọn cơm cho anh Vũ!

Hải sống với bà nội ở bên kia sông, chúng tôi chưa nghe mà cũng không ai hỏi thêm về cha mẹ của Hải. Cũng như bè bạn, trạng lứa mười bốn, mười lăm tuổi mà Hải đã quen dầm mưa nắng chèo xuồng đưa khách sang sông, kiếm tiến phụ nuôi gia đình; lúc ế khách, hay la cà xin khuân vác phụ việc. Mãy đưá nó khôn lanh lẹ làng, chịu khó, nhưng lắm lúc vẫn còn vương vất nét thẻ thơ rất dễ thương. Tôi giãm tốc độ cho bớt sóng và ngó cầm chừng chiếc xuồng đang giòng theo phía sau, cho Hải.

Đã gần chín giờ sáng rồi mà trông u ám, chưa thấy mặt trời, chốc lát chắc phải có mưa. Sáng sớm, tiết trời cuối năm se sẽ lạnh, lại mưa, lại phải vác nước đá! Ngó chân trời, mong cho mây chậm kéo tới, chờ xuống xong nước đá hảy mưa, tôi cúi xuống nói vọng vào hầm máy:
- Hải vừa ăn vừa coi chừng xuồng nghe, tao dọt cho lẹ một chút. Mình ráng xuống một mớ nước đá trước khi mưa.

May là sáng nay, hãng chỉ có một trăm cây nước đá, nên khi xuống xong thì mưa mới bắt đầu lâm râm. Vũ và tôi đứng nghỉ tay, hít vài hơi thuốc cho ấm, rồi phụ nhau che khối cây nước đá trên tàu.
- Ra biển mà mưa, tao chán quá.
Vũ lầu bầu, để tấm ny-lông lên đống nước đá:
- Còn một tấm, mày đậy luôn giùm tao cho rồi. . . Giờ này không thấy mấy đứa trên công ty, chắc là không có đứa nào quá giang rồi. Kệ, tao phóng lẹ lên quán lấy một lít rượu phòng hờ.
- Xách vài ba lít đi. Lát nửa, tới trạm biên phòng, tụi công an hay xuống quá giang, mình có mà đổ cho nó ngủ. Tụi nó ngó ngang liếc dọc, lải nhải ba cái đồ “hồ hởi” “phấn khởi”, tao xốn lổ tai lắm.
- Ráng nhịn, mày!
Vũ vỗ vai tôi:
- Tụi mình còn bà con trông cậy. đừng để hư bột hư đường, mậy ... Tao đi mua rượu rồi mình giông.

Vũ thay cho người bác, trông coi tàu để chờ cơ hội mang gia đình đi. Thân với nhau từ lớp tám. Nhờ Vũ thương bè bạn và dám che chở cho thằng bạn tù trốn quản chế, tôi mới có được chỗ ẩn náu trên tàu chờ ngày trốn đi. Xuống đây, nhằm tháng ba, " bà già đi biển", thế mà chiếc tàu chưa chạy được đến đâu. Bây giờ, Tết lại sắp đến, đã biết bao lần ra vào cửa biển như hôm nay, mà chúng tôi vẫn chưa biết bao giờ sẽ lần xuất phát. Mong chờ và lo lắng cho ngày vượt trốn vô cùng, nhưng phần lớn tuỳ thuộc vào gia đình của ông bác. Sống gần cửa biển, tất nhiên nghe thấy thảm cảnh của đồng bào vượt biên bị chúng bắt được. Biết mà mà không giúp được cho đồng bào bị bọn công an cộng sản thảm hại, cái uất ức cứ vương vấn hành hạ lương tâm tôi. Đêm nghe tiếng súng ngoài biển, thảng thốt ngồi bật dậy nhìn đêm đen, nghe như có tiếng trách hờn, xót đau cào xé trong lòng.

Trời cuối năm thường không mưa nặng hạt và dai dẳng lắm, nhưng hướng ra biển, chỉ thấy trời âm u thôi, thì đúng như thằng bạn Vũ của tôi nói, cũng chán thiệt!
Nước đổ ra biển, đang ròng thấp xuống, cọc đáy bị gảy đứng ngầm bên dưới mặt nước, đón lườn tàu, bây giờ chúng đâm đầu lên nhấp nhô trên mặt sóng. Tôi giữ tay lái xem chừng để tránh và ôn nhớ vị trí các cọc đáy. Đây là một trong ba tuyến đường, tôi cần ghi nhớ để một đêm xuất phát nào đó, chúng tôi sẽ phải lái ra cửa biển mà không được dùng đèn rọi để tìm tránh cọc đáy, nhất là các cọc đáy ngầm này.

Phía trước có chiếc xuồng đang hướng ra chợ. Cô gái nghe tiếng máy tàu phía sau, từ xa đã ngưng tay chèo, nép xuồng sát vào bờ. Thấy vậy, tôi cũng hạ thấp tốc độ máy cho bớt dậy sóng, khi tàu chạy ngang qua.
Cánh áo đã bạc màu, sắc tím lan đây đó phơn phớt, mộc mạc như đoá hoa lục bình ven sông. Cho tàu chạy thật chậm, nhẹ lướt qua chiếc xuồng. Ngó sang, thấy xuồng chở đày ấp dưa hấu, tôi lên tiếng chào hỏi:
- Cô ơi, dưa đã có mối chưa cô?
Trong màn mưa lất phất, có đôi mắt ngước nhìn lên e dè:
- Dạ . . . có rồi . . . biếu . . . chú một trái ăn Tết cũng được.
- Chúng tôi xin mua một cặp được không cô?
Cô gái kéo nón che đôi mắt, ấp úng:
- Dạ . . . Má . . . rầy!
Tôi nói vói theo xuồng dưa đang xa dần ra phía sau:
- Không sao, cám ơn cô ! . . . Cô cho tôi gởi lời thăm Má, sang Năm Mới mua may bán đắt nhé!
Bên dưới vánh nón lá, nụ cười bẽn lẽn còn mọng ướt hạt nước mưa.

- Ê, Làm một điếu cho ấm đi!
Vũ chồm người lên mui đưa cho tôi điếu thuốc đã mồi sẵn.
Điếu thuốc rê, hơi khói nặng đặc quánh. Nhưng thà vấn thuốc rê mà hút, tôi ghét căm cái nhãn hiệu thuốc hút có cái tên rất là dị hợm: Sài Gòn giãi phóng. Không cần biết thuốc hút ngon hay dở ra sao, tôi chỉ ghét cái chữ “giải phóng” của chúng nó, đâm ra ghét lây gói thuốc thế thôi. Thà nhịn thèm, còn hơn phải hút cái thứ có chữ “giải phóng” khốn nạn đó. Hồi đó, mới lảnh lương, dừng quân có chợ quán là tôi kiếm mua một gói Pall Mall. Điếu thuốc có dáng thon dài, thơm nồng nàn, thật tuyệt. Bây giờ, tôi ước gì có được điếu Basto Quân Tiếp Vụ.
Tôi xoay điếu thuốc vấn vào trong, che mưa, để đóm lửa con con sưởi ấm lòng bàn tay:
- Cám ơn mày . . . Sắp tết rồi!

Bao nhiêu cái Tết, gia đình đã không thấy tôi về. Tết trong rừng bụi, Tết trong tù và thêm một năm nửa, một cái Tết lưu lạc, lẫn trốn trên chiếc tàu này. Rồi đây, nếu tôi trốn thoát, thì bao nhiêu cái Tết mới hết loài cộng phỉ, để tôi trở về quê hương vui Tết?
- Ừ, mau quá !
Tôi hướng về hai người khách quá giang đang ngồi trước mũi tàu:
- Tao không tin bà dì Bảy là dân đi buôn, qua giang để đi mua hàng. Hình như hai bà dì này tìm kiếm chi đó bên kia sông.
- Ừ, tao cũng thấy vậy. Tao có mời vào trong này cho đở gió mưa, mà không ai chịu, cứ ngồi ngoài ấy. Mày xem, mình để ý hỏi thì mấy bà có bao giờ dám nói cho người lạ như tụi mình nghe đâu, mà còn làm cho mấy bà e ngại ... Mà, cũng gần tới xóm trạm biên phòng rồi, hai bà cũng lên trên bến đó. Thôi, tao xuống chuẩn bị giấy tờ đi trình trạm công an để ra biển.
- Ừ, thì chỉ qua vàm lục bình đàng trước!
Nhắc đến vàm lục bình, tôi chợt nhớ ra, ngó theo hướng nhìn của hai người khách, cho tàu chạy chậm lại và áp gần vào bờ hơn.
Phía vàm lục bình, đất bồi nên cạn lài ra gần giữa lòng sông, tàu chở nặng, không thể chạy quá gần. Xa xa, dảy lục bình ven bờ lao xao nhấp nhô theo làn sóng gợn đưa vào. Trên thảm lá xanh mướt sau cơn mưa, sắc hoa tím nhạt điểm nhuỵ vàng trông càng tươi thắm. Những mầm sống này trôi dạt lững lờ từng mảng theo dòng nước; như có hẹn nhau, chúng gom tụ vào đoạn sông này, rồi sinh nấn níu nhau, không chịu rời đi nơi khác.
Bạn đi ghe truyền tin nhau, không rõ từ hôm nào, bên dảy lục bình dày đặc này cùng những mảng vỏ tràm, bọt bèo, mấy ngày nay lại thấy nổi phập phìu một phần lưng của xác người. Cái quầng nâu sậm gần cuối lưng, không rõ là vướng đất phù sa hay là vết máu. Mặt nạn nhân úp xuống nước, nên khó định được dạng tuổi. Sau những lần nghe tụi biên phòng rượt bắn tàu vượt biên, thì thỉnh thoảng lại thấy có xác nổi lên, trôi dạt và thường vướng vào đoạn sông này. Lũ man rợ cộng sản muốn thế, cứ để giòng nước đưa đẩy thi thể qua lại hay cuốn ra biển khơi mặc tình; để đe doạ những người mà chúng ve vản gọi là đồng bào, và chờ thân nhân đến nhận xác để ăn tiền, ăn trên xác chết của nạn nhân! Tội nghiệp cho gia đình quyến thuộc, họ thăm hỏi, xin quá giang ghe tàu chạy ngang để tìm nhìn thi thể người thân.

Chiếc tàu chậm chậm qua khỏi vàm lục bình, tôi ngoái nhìn theo vệt sóng chạy nối nhau vào bờ rì rào tìm kiếm.
Không biết thi thể của người đàn ông vương ven bờ, bây giờ đang trôi chìm nơi đâu. Một mùa xuân hy vọng, đã chìm vào mênh mông. Rồi đây, mùa xuân có còn trở về trong những ánh mắt tiếc thương của người thân còn sót lại? Hay mỗi độ xuân về, ngày Rước Ông Bà chỉ còn là mâm cơm chiều nhớ ngày giỗ kỵ và ánh nến trắng tang thương lại đốt cháy thiệp xuân hồng?
Mắt nghe cay xót. Giòng nước đổ ra biển đang cuộn dậy, sôi sục sóng uất hờn.

Nén hương lòng kính dâng lên anh linh đồng bào đã tử nạn trên đường tìm Tự Do.Đồng tưởng nhớ Ba, Mẹ, anh Hai, em Sáu của nhà tôi, cùng những thuyền nhân đã trốn đi vào ngày cuối năm trên chiếc tàu đã không đến bến bờ Tự Do.. Ngày giỗ năm Mậu Tý.

2.

Tháng Tư gợi nhắc lắm đau thương.
Có phải, mỗi một ngày lưu vong là một ngày đen, tháng ngày Quốc Hận!
Niềm ưu tư thôi thúc tôi, ngồi lại với bàn phím, với tâm tình, với những trang sử buồn của tháng Tư. với Diễn Đàn Bất Khuất.
Tự Do ơi Tự Do!
Chào kính,
BK Tính323


Mấy ngày nay biển động. Dân đánh lưới cá tôm không ra khơi được, tàu chúng tôi phải nằm chờ hải sản "thu mua" đũ số lượng của một chuyến. Sau này, dưới chế độ cộng sản cai trị, cũng như các ngành nghề lao động khác, người hành nghề đánh cá phải vào "hợp tác xã", bán hải sản cho bọn cầm quyền ở địa phương.
Bước sang tháng Tư, thời tiết trở nên bất thường. Các chuyến vượt biển bằng ghe tàu nhỏ coi mất dần cơ hội để ra khơi. Gió mạnh, có lúc chắc phải hơn bốn mươi cây số một giờ, làm biển động mạnh. Không thuyền ghe ra khơi, không tàu bè trở về. Mưa cứ nối nhau, cơn từng cơn, từng cơn rào rạt trút nước lên vạn vật. Bãi biển cạn, đất bùn. Sóng cuộn nhào đục ngầu màu phù sa nâu đỏ. Trời âm u buồn. Trùng dương xám mù mịt, lòng người chùng xuống ưu tư. Trong âm u mù mịt, biết đâu ngoài biển khơi, thuyền Tự Do của đồng bào tôi chao đảo trong cơn sóng gió. Không vướng bận thân quyến đồng hành, chiếc 3392 của chúng tôi đang ngoài khơi đó, từ đêm khuya hôm qua.
Ra đến trạm thu mua, tức là đã qua khỏi trạm công an biên phòng hay căn cứ hải quân rồi. Nhìn đại dương rộng mở, nôn nao mong ước lắm. Người ta liều lĩnh, ra khơi bằng ghe tàu mỏng manh hay trong mùa biển động để bọn công an và tay mắt không để tâm theo dõi lùng kiếm. Thuyền nhân chọn hiểm nguy trong sóng to gió lớn để vượt thoát chế độ ngục tù của loài cộng sản, chấp nhận đánh đổi tính mạng chính mình vì hai chữ Tự Do.
Tàu đánh cá quanh đây hầu hết thấp hẹp, nên tốc độ tàu lướt sóng nhanh gọn, để thích ứng với nghề đánh lưới vây, lưới kéo, bắt tôm, cá thu, cá ngân,… Nhưng biển động ghe tàu nhỏ đành nằm bến chờ thời và tàu chở hàng chúng tôi cũng neo tàu, bị mất chuyến. Có chuyến chở hàng, có tiền cơm gạo, có cơ hội dò đường chọn cửa biển, được mua dầu để tích trử cho ngày ra khơi.

Thời tiết thế này chán lắm!
Bên ngoài mưa gió ướt át, ba người gom lại bên trong mui tàu thì tù túng quá. Chưa đến bốn giờ, trời tối như đã về đêm. Ghe, nhà lấp lánh ánh đèn. Phụ anh Ba, anh rể của Vũ, nấu cơm, rồi ba anh em quay quần ăn cho xong cơm chiều. Độ nhậu hồi sáng với nhân viên khuân vác trên trạm, còn lưu giữ men rượu trong huyết quản. Ngầy ngật, bụng dạ lở đói lở no. Húp miếng canh, ăn uống qua loa cho xong, chúng tôi thả lòng vòng lên trạm thu mua, tán dóc với công nhân trên trạm. Khề khà câu chuyện đôi phút cho có tình tự làng nước, rồi kéo mấy cái thùng đựng hài sản ướp nước đá xây ra ngoài cửa ngồi. Thùng hình khối vuông, được ráp lại bằng sáu miếng nhựa cứng. Chúng tôi để mắt đến loại thùng này. Tháo ra, sáu miếng chồng lên nhau chỉ cao hơn gang tay. Mỗi miếng, đũ sức làm phao cho một người lớn. Ráp vào, lót túi ny long lớn cho nước đừng chảy thoát thì thành thùng chứa nước ngay, rất hữu ích khi ra khơi. Tàu cần có một số thùng này khi ra khơi.
Chúng tôi ngồi vấn thuốc hút nhìn trời biển, nhìn mưa gió, nhìn người. Làng đánh cá nghèo. Dân nghèo bị cướp mất quyền tự do đi biển và buôn bán, càng khốn đốn hơn với loại tiền hồ cáo mỗi lần đổi tiền lại mất giá trị hơn. Quanh đây, không bông hồng kiêu sa, nhưng cánh hoa mộc mạc mặn mà, cũng dễ làm những cánh bướm đa tình ươm ấp mộng mơ, lạc lối quên đường.

Từ ngoài khơi nhìn vào, bên trái là văn phòng, kho chứa nước đá, hải sản, bên phải là nơi công nhân cư ngụ. Phần nhà sàn trống lớn chính giữa dành chỗ cho công việc lên hàng, xuống hàng. Mỗi khi tàu mang nước đá cây đến hay lấy hải sản chở về thành phố, không gian nơi đây bừng tỉnh dậy. Đèn sáng choang, tiếng máy át tiếng người. Công nhân viên gọi nhau gom tụ lại nơi đây. Người làm hùng hục, các xếp đi đi lại lại chỉ chỏ, nhóm "vô tư" tà tà đứng xem chơi cho vui. Căn nhà trống trải bổng chốc trở thành chậc chội, người và hàng hoá chen lấn nhau. Sàn nhà ướt lênh láng nước tôm, nước cá cùng nước đá và thân người làm công thì đẩm ướt mồ hôi. Tiếng người khuân vác chuyện trò ồn ào. Máy phát điện, máy xay nước đá đua nhau chạy rầm rĩ. Bất kể đang là ban ngày hay giữa lúc đêm khuya, trạm như cái chợ đang nhóm. Người ta hối hả làm cho xong, để nghỉ ngơi hay trở lại nhậu tiếp. Mấy anh em chúng tôi thì chờ nước đá lên hết để dọn dẹp tàu, đi kiếm cà phê hàng quán lai rai, hay chờ hàng xuống xong để tháo dây rời bến.
Xong công chuyện, trống vắng lại trở về.
Không có hàng lên hàng xuống, lúc nào có độ ăn uống nhậu nhẹt, trạm mới có phần sống động lại. Mặt xoay ra cầu tàu của khu tiếp nhận hàng để trống thoáng, gió hắt mưa ướt phía ngoài, bên trong cũng khô ráo dễ chịu.

Nhưng lắm lúc, gian nhà hiền hoà, trông có vẻ vô tội vạ này không chỉ đơn thuần là nơi phục vụ cho việc mua bán hải sản, nó bất chợt bị biến thành trại tạm giam và khu tra tấn của bọn cộng sản bất nhân.
Tàu vượt biên không may bị chận bắt được, bọn công an kéo về đây để tra tấn người và vơ vét cướp đoạt tiền của, trước khi giải giao thuyền nhân đến các cơ quan khác. Đồng bào tôi bị cột trói, đẩy ngồi trên sàn trạm. Với cửa đã bị lịnh đóng kín và che bít bùng, không ai biết được bao nhiêu người đang dở sống dở chết, vất vưởng âu lo, còn lại bên trong chiếc tàu bất hạnh. Trạm đầy ấp người. Bọn công an, đám lính võ trang ở địa phương xoay quần người bị bắt. Thuyền nhân, người sơ mi tay dài, tay ngắn, có áo trắng, áo màu, có áo đen bạc mốc…Dân tỉnh thành hay người trốn đi từ thôn xóm, áo quần cùng giống nhau cái xốc xếch, bê bết dầu máy hay bùn đất. Người bị trói, ngồi co ro, mất thần sắc nhìn những khẩu súng đang ghìm chỉa hăm doạ. Mặt kẻ chiến thắng vênh váo khoái trá; thêm một dịp vừa chia chát tiền vàng cướp được bửa nay, vừa lập công với đảng, dâng thành tích cướp của bắt những "thằng phạm", "con phạm" vượt biên.

Chữ nghĩa của cộng sản gọi đồng bào tôi như thế đấy!

Thế đấy, đồng bào tôi đã "phạm" cái tội mà cái đảng thổ tả và "nhà nước" cộng sản rất là căm thù cấm kỵ, đấy là "tội" tìm Tự Do!

Ngước nhìn lên cây đà ngang trên trần nhà, nơi hai người đàn ông bị trói treo trên ấy để chúng nó tra khảo; tôi ngẩm nghỉ, biết đâu, có ngày xác mình cũng bị tụi cộng sản kéo về, treo lên trên đấy, để chúng nó hăm doạ những người còn toan tính vượt biên.
Tôi còn thấy đó, trong góc phòng, mặt bàn đầy ấp những ổ bánh mì , các mảng thịt heo quay, thịt vịt, thịt gà thơm béo. Tai tôi còn nghe vang dậy tiếng khóc thét kinh hoàng của mấy đứa trẻ con trên tàu bị lũ công an hung bạo bợp tay té nhào, vì ngây thơ dám mó tay vào bánh vào thịt của tàu đã bị chúng nó cưỡng đoạt.

Có phải chăng, chủ nghĩa cộng sản đã huỷ diệt linh hồn con người, biến những kẻ cầm súng theo chúng nó trở thành động vật mất nhân tính, mất hết tình người ?!
Có phải, cái loài cộng sản là những con thú dại, loài quỷ quái. Cái giống sinh vật được tạo ra để chỉ biết cúi đầu và gục mặt để tôn thờ loài hồ cáo súc sinh, để phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản bạo tàn ?!

Ngước mắt ngó lên trên bến trạm,
Nhìn những thuyền nhân bị bắt về.
Tay trói, gục đầu, lời đã cạn.
Tiếng khóc trẻ thơ, dạ tái tê.

Nhìn người, chợt thấy mình thân thuộc
Tôi khóc hay sao, nước mắt nào?
Tự Do ơi hỡi, tim xót buốt!
Dân tôi bất hạnh lắm thương đau!

- Ê, có tin vui!
Nghe tiếng anh Ba phía sau, chúng tôi quay lại, thấy anh Ba đang đi tới.
Anh hớn hở báo tin:
- Chiều nay mình về! Anh mới lên văn phòng nhắc vụ cho tàu mình về. Họ nói, công nhân trên trạm ăn cơm xong, khoảng sáu giờ sẽ xuống hàng. Có bao nhiêu thì tàu mình chở bấy nhiêu. Chút nửa mình chạy về.
- Bắt mình neo tàu chờ ba hôm nay, cũng ép lắm rồi.
Vũ càu nhàu, nhưng hài lòng. Anh Ba vui vẻ bảo chúng tôi:
- Anh coi tàu cho, hai anh em lên quán kiếm gì uống đi
Vũ đứng dậy, vỗ vai tôi:
- Đi mày, tụi mình lội đi kiếm cà-phê uống chơi! Cà phê sửa hả anh Ba?
- Ừ ,… gì cũng được mà. Hai đứa cứ đi, anh nằm nghỉ một chút!
Anh Ba cười dễ dãi với hai thằng em.
Đi ngang qua cái bàn nước gần văn phòng, Vũ dừng lại, mượn cái ly để đựng cà phê đem về cho anh Ba.

Đúng là lội. Đường lên quán cà phê rất hẹp, vừa đũ cho hai người tránh nhau. Mặt đường trồi sụp, uốn ngoằn nghoèo sát theo hai bên nhà vách lá cũ kỹ. Bùn trơn trợt và uớt nhão giữa các kẽ ngón chân. Có chỗ, chúng tôi phải lom khom bước lên trên thềm nhà, mái lá thấp là sà trút nước mưa ngay lên người đi bên dưới. Dân làng nghèo, sống khắc khổ. Đánh lưới được tôm cá ngon không dám ăn, phải bán đi để đổi gạo, đổi dầu. Quán sống được chắc nhờ vào buôn bán cho công nhân viên, người làm ăn buôn bán xa nhà.
Căn nhà lá nhỏ, như những căn nhà hàng xóm. Ánh đèn dầu vàng, đũ soi sáng bốn cái bàn gỗ thấp. Vậy mà hai bàn đã có khách ngồi. Bên các thức uống như cà phê, nước ngọt, dỉ nhiên quán có bán rượu. Rượu trắng, rượu thuốc và đồ nhậu như khô mực, cá khô bầy đầy trên quầy. Vũ uống rượu vững lắm, nhưng anh em chúng tôi không ai ghiền rượu, chỉ uống cho công việc chạy chọt được trơn dễ mà thôi.
Có chuyến chạy, có tiền vô, chúng tôi khao mình ly cà phê trước. Như các quán bình dân trong thôn xóm, quán chỉ có loại cà phê "kho", pha trước và ngâm nấu trong bình. Vị cà phê đậm đắng, có mùi khét hơn là thơm cà phê. Chẳng biết trong thời buổi hàng hoá đã bị cộng sản cai trị, mọi thứ nhu yếu phẩm đều phải sắp hàng chờ mua ở hợp tác xã, người ta cùng túng đã rang nướng những thứ chi để pha trộn thành bột cà phê. Riết rồi cũng quen dần hương vị, nhưng có đường hay sửa ngọt vào thì dễ uống, ngon miệng hơn. Quán vùng dân nghèo, được uống ly cà phê sửa như thế này là đã sang lắm rồi. Hết rồi, chúng tôi không dám ước mơ được thưởng thức lại hương vị độc đáo của từng giọt Café du Monte ngày nào. Dưới tàu có hộp cà phê đã xây, ít mùi khét hơn, chịu khó nấu nước pha một chút cũng có cà phê nhâm nhi vậy. Nhưng dầm mưa lội trong bùn sình ra quán, ngồi uống cũng cái thú vị "ngồi quán" uống cà phê. Hơn nửa, chúng tôi cũng cần phải biết qua tình hình địa thế trên đất liền. Có dịp la cà quanh xóm, để công an, đám quân võ trang, cùng dân làng quen mặt vẫn có lợi hơn sau này.
Tối nay chạy về , nhằm lúc chạy ngược giòng nước, ít nhất cũng phải sáu tiếng đồng hồ mới về tới bến. Vũ coi máy, anh Ba với tôi thay nhau cầm lái. Quán không đông người, chúng tôi thư thả ngồi nhâm nhi cà phê, để yên cho anh Ba nằm nghỉ ngơi trước. Cũng như anh Ba, Vũ rất khéo ăn nó, lại từng trãi về làm ăn buôn bán, nên Vũ đối đáp và bắt chuyện với mọi người chung quanh rất dễ dàng. Tuyệt nhất là những bài vọng cổ của anh Ba, có anh ngồi chung, thế nào cũng có người yêu cầu anh làm vài bản; không mồi ngon người ta cũng thấy buổi nhậu hứng khởi, thật đậm đà. Nhờ có anh Ba và Vũ, chúng tôi hoà nhập vào đoàn tàu và dân cư xung quanh dễ dàng hơn.

Chuyến này, không có bao nhiêu thùng hàng. Tất cả các thùng hải sản đã được ướp nước đá giữ lạnh, từ mấy hôm trước rồi. Bây giờ, công nhân chỉ mở nấp ra, kiềm lại và đổ thêm nước đá xây vào để tôm cá có đũ độ lạnh. Chừng ba mươi phút, các thùng hải sản được chất gọn trong khoang tàu.
Vũ cho máy chạy. Mấy ngày nay, mới được nghe lại tiếng máy tàu mình. Tiếng máy tàu nhắc nhở và cho tôi niềm hy vọng, còn có một ngày tàu sẽ đưa tôi ra khơi. Từ đây, chỉ cần may mắn phóng tàu ra ngoài biển, chạy hết tốc độ chừng ba mươi phút là coi như thoát được gông cùm cộng sản.
Khởi từ điểm này, thoát đi không khó lắm. Cái khó là làm sao rước đón được gia đình thân hữu lên tàu, lọt qua tai mắt của công an cùng các tàu tuần và trạm kiểm soát biên phòng, trước khi ra đến trạm thu mua này. Đứng ngoài mũi chờ tháo dây, nhìn đại dương rộng mở đợi chờ, lòng bồi hồi ước mơ. Đến đây bao nhiêu lần rồi, nhưng tàu lại lấy hàng rồi lại phải quay trở về.

- Tụi tui đi nghen!
Tiếng anh Ba gọi lớn từ giã người trên trạm, nhắc tôi trở về thực tại. Chú trưởng toán công nhân, sốt sắng bước xuống cầu tháo dùm dây, hẹn với chúng tôi:
- Ít bửa ra đây nhậu tiếp!
Chờ tôi đón chụp khoanh dây xong, chú Sáu xô mũi tàu ra ngoài cười thân mật:
- Rồi, chạy đi!
Tôi cám ơn chú, chống sào đẩy mũi tàu cho xoay thêm ra ngoài. Anh Ba kéo cần lái qua phải và tăng thêm tốc độ, đem mũi tàu quay ra khỏi bờ, rồi chạy vòng vào lòng sông dẫn về thành phố.
Tàu chúng tôi rời bến, người trên trạm cũng tản mác, về nghỉ ngơi. Trạm tắt bớt đèn, chỉ còn vài bóng ánh vàng mờ mờ trong vài gian nhà công nhân. Đêm tối, trời mưa, tàu thuyền vắng, tôi tiếc rẻ ngoài nhìn biển cả đang xa mờ dần phía sau. Kéo đầu cây sào trong nước thêm một lúc, để rửa cho sạnh bớt bùn sình của đáy sông đã bám vào. Tôi gát cây sào tre nằm tựa vào trong lòng khoang, rồi đi lên mui ngồi vấn thuốc hút, chuyện trò với anh Ba và Vũ.
Tàu chở ít, nhẹ, nhưng gặp lúc giòng nước trong sông đang đổ ra biển, phải chạy nước ngược về. Ngoại trừ tiếng máy dầu cặn và đèn từ tàu chúng tôi, sông nước tối vắng. Chạy suốt hơn một giờ, không thấy bóng dáng chiếc tàu nào. Thời gian này, không ai đi đánh cá về, và cũng không thấy tàu ra biển. Tàu ra biển thì chỉ có tàu công an đi tuần hay tàu vượt biên. Chiếc tàu của dân chúng trở về thì chỉ có đi vượt biên lạc hướng hay bị biển động phải quay vào.
Anh Ba gọi tôi:
- Hồi chiều ăn sớm quá, chắc ai cũng sót ruột, để anh xuống nấu miếng cháo anh em mình ăn thêm.
Anh Ba siêng và chịu nấu ăn lắm. Anh làm thức ăn ngon, chế biến đồ nhậu rất tài tình, nhất là món canh chua.

Vào trong sông có bớt gió, nhưng mưa cũng còn khá nặng hạt. Về khuya, đoạn sông thưa vắng nhà dân, lâu lắm mới thấy ánh đèn trên bờ. Ít nhà, ít có lưới đáy giăng, thỉnh thoảng tôi mới mở đèn pha xem chừng sông nước và cột đáy. Dưởng máy để chờ thời cơ, tàu bình thản chạy về bến nhà. Đêm vắng buồn mênh mang, nhớ gia đình, nhìn tương lai mờ mịt như bầu trời đêm nay.

Bổng tôi nghe như có tiếng súng. Loạt đạn ngắn, nghe xa phía trước. Tôi gọi xuống mui:
- Ê Vũ , mày có nghe gì không, hình như có tiếng súng bắn phía đâu đằng trước tàu mình.
Anh Ba bận xem chừng nồi cháo. Vũ đứng lên bảo tôi:
- Chắc ở dưới này máy chạy ầm ầm, tao với anh Ba có nghe gì đâu.
- Ừ, tiếng súng ở xa, chắc trên này mới nghe.
Hai đứa chúng tôi lặng yên lặng, lắng nghe một lúc cũng không nghe tiếng súng nào cả. Tôi nghỉ, cũng có thể tôi nghỉ ngợi lắm chuyện đã qua, trí óc lầm lạc.

Vũ vấn và đốt cho tôi điều thuốc. Chúng tôi hút thuốc, mỗi đứa đều có lắm ưu tư, chẳng ai còn muốn nói với nhau tiếng nào. Đêm khuya, có tiếng súng khu trạm công an biên phòng, thường vì có tàu của vượt biên bị đuổi bắt. Lại phải chứng kiến cảnh bà con mình bị hành hạ hay xác dân lành trôi dạt trên sông nước. Trách nhiệm và an toàn cho thuyền nhân trên tàu trong ngày vượt biển, lắm điều nằm ngoài khả năng của chúng tôi. Tính toán thành hay bại, sống hay chết bị tuỳ thuộc vào Ơn Trên, số mạng may rủi.
Tôi mở thêm đèn trên mui tàu, và dùng đèn pha thường hơn để tụi tàu biên phòng không bắn lầm.

Anh Ba, cầm tách nước trà lên mui ngồi với chúng tôi:
- Cháo chín, anh ăn xong rồi. Để anh coi lái cho, hai đứa xuống ăn đi.
Giao cần lái cho anh Ba, chúng tôi cám ơn anh và cùng tuột xuống bên dưới mui kiếm cháo ăn. Mặc dù không còn gạo ngon thơm như thời trước khi bọn cộng sản cướp nước, cháo trắng của anh Ba nấu vẫn hấp dẫn lắm. Anh tỉ mỉ từ việc canh lửa, canh nước, quậy cháo… Hạt gạo bong nhừ, mỗi muổng cháo nóng, ăn không chi hết cũng đã ngon, thêm chút vị mặn béo của trứng vịt muối thì ngon tuyệt vời.

Trong trại tù cộng sản, cơm là gạo mốc và sâu quệnh thành từng cục to muốn bằng nắm tay, lại trộn các thứ khoai hư khoai sùng. Hôm nào được bè bạn chia cho miếng nước cơm, uống chầm chậm cho lâu hết, quý vô cùng.
Tối nay, có gạo để nấu cháo, chúng tôi may mắn lắm!
Dân nghèo bây giờ chỉ còn biết trông mơ có được bát cơm, nấu bằng hạt gạo như ngày xưa.
Thế đấy, cái đảng cộng sản chết tiệt của chúng nó lại gọi là "giãi phóng"!

Ăn uống xong, Vũ với tôi leo lên mui ngồi hút thuốc nói chuyện với anh Ba, cho có anh em. Tiếng súng lúc nảy, như còn văng vẳng trong đầu, câu chuyện của chúng tôi lừng khừng, rời rạc. Ngồi hút điếu thuốc chưa xong, bổng có loạt đạn, bắn đến hướng chúng tôi. Chưa ai nhận hiểu ra được chuyện gì xảy ra thì thêm mấy loạt đạn ngắn, chát chúa, bay tới tấp và đèn pha sáng rực rọi thẳng vào tàu.

- Dừng lại! Công an biên phòng đây!

Cùng lúc với tiếng loa gọi, chiếc tàu đánh cá cao lớn, dựng mũi rẻ nước, phóng ào ào tới, rồi bẻ lái sàng ngang nhập vào hong tàu chúng tôi. Sức ép của chiếc tàu công an đè dẹp mấy cái vỏ bánh xe treo bên hong.
Anh Ba vội vã hạ thấp tốc độ. Vũ thả nhanh người xuống dưới mui, gài trả về số lui, để thắng tàu lại. Nhờ chạy ngược nước, tàu dừng lại thật nhanh.

Phập!
Cây móc từ tàu công an cấm lên mũi tàu, kéo ghịt tàu chúng tôi vào.
Tôi chạy ra mũi, thả vòng vỏ xe xuống, để chêm thêm giữa mũi tàu đang bị sóng nhồi, va đập mạnh vào thân gỗ cứng cáp của loại tàu đánh cá.
Đón cuộn dây thằng công an thảy qua, tôi quấn cột cho hai tàu kè nhau.

- Đ.M. tàu vận chuyển của thằng Ba hả?
Anh Ba lớn tuổi, thủ vai chủ tàu. Ba Thơ, trưởng phòng vận chuyển, thường hách dịch gọi tàu chúng tôi là tàu của thằng Ba. Hằn đứng ngay ngoài mũi tàu, lên tiếng hỏi và nhảy sang trước. Một tên công an ôm AK phóng nối theo. Nhiệm vụ của Ba Thơ chỉ lòng vòng trên văn phòng xuống bến tàu, nhưng hắn khoái đeo súng đi theo công an bắt ghe tàu vượt biên lắm. Lợi nhiều thứ, vừa tạo thành tích nhiệt tình, lập công dâng đảng, vừa có phần chia chát số tiền vàng cướp được từ thuyền nhân.

Nghe tiếng Ba Thơ, tôi yên tâm đôi chút. Hắn nạt hỏi như thế, cho ra vẻ có uy quyền chưởi la dân chúng, chớ hắn quá quen thuộc hình dạng từng chiếc tàu chở hàng cho công ty. Nghe hắn lớn tiếng hỏi thế, tức là hắn đã biết tàu và anh em chúng tôi, thì chắc là cái đám công an sẽ không xét hạch giấy tờ tuỳ thân cá nhân. Dùng giấy tờ của em trai, tôi phải cố né tránh bị hỏi giấy tờ.
Nhìn đống thùng hải sản nằm trong mấy tấm nhựa che mưa gió, Ba Thơ hất hất khẩu K54 trên tay ra lệnh cho tôi:
- Chở bao nhiêu đứa vượt biên hả?... dở tấm bạt lên cho tao coi!
Nghe Ba Thơ hỏi xét, thêm hai tên công an xách súng phóng sang.

Đứng gần mấy thằng công an mặt vênh váo, máu hận sôi sục. Nhìn cái lối tay cầm cây K54 lúc lắc, miệng chỉ lo láp váp, tôi ngứa tay muốn đánh giật lấy cây súng của Ba Thơ. Kề súng vô đầu Ba Thơ là ba thằng nhóc công an trên tàu đứng kế tôi phải bỏ hết súng đạn xuống sàn tàu. Cái đám bên tàu mà bắn sang, thì ít nhất bốn thằng đồng chí đồng rận với chúng nó phải chết trước.

Tôi nhịn nhục, nhảy xuống khoang, kéo các tấm bạt cho bày các thùng hàng ra, để Ba Thơ và đám "bò vàng" muốn kiếm ai thì kiếm. Bốn tên lăng xăng xúm xít, lật ván lót trên khoang tàu, rọi đèn xem dưới hầm máy.
Không thấy đồng bào vượt biên trên tàu, Ba Thơ xoay qua hạch hỏi:
- Đ.M. tụi mày mấy hôm nay chạy tới đâu rồi?.... biển động quá mà! …tụi mày mới quay lại phải hong?... Đ.M!... giấy chở hàng đâu ?
Lợi dụng cơ hội để tránh đứng gần mấy thằng công an, tôi quay người bước đi lên mui:
- Để tui lên giữ cần lái cho anh Ba xuống lấy giấy tờ.

Anh Ba đưa sổ sách cho Ba Thơ xem, nhẫn nhục cười hề hà cho qua:
- Có chuyện chi vậy chú Ba!... tụi tui nằm húp cháo ngoài ngoải mấy bửa nay, trạm mới cho xuống hàng để chạy dìa đây mà chú?
Cũng may, nồi cháo với hột vịt muối còn đó. Ba Thơ mà bắt được lấy tôm trong thùng nấu ăn là phải tốn tiền tốn rượu với hắn.
Trả sổ sách, Ba Thơ hằn học ra lịnh:
- Tụi bây!... Chở tao với mấy đồng chí đây đi kiếm tàu vượt biên… Đ.M… mới thấy đó, nó lủi trốn đâu mất. Tao tìm thấy, tao nẹt bể đầu hết!

Anh Ba tìm cách kèo này:
- Chú Ba biết mà, cái máy tàu tụi tui nó rề rề lắm, mần sao mà chạy đuổi với bắt được ai chú ơi!
- Đ.M. cần gì chạy cho lẹ mậy!... Có tàu tụi bây dí chận nó, tao kêu tụi biên phòng tới bắn chết mẹ nó hết.
Lòng dạ đâu mà giúp sức cho bọn súc sinh này, anh Ba ráng tìm cách gỡ rối:
- Mấy chục thùng tôm này bị nằm kho cả ba bốn ngày nay rồi đó chú Ba. Trạm sợ hư mới kêu tụi tui chở về. Bây giờ chú bắt tàu chạy lòng vòng, chậm lục, tan hết nước đá, tui sợ tôm nó thúi hết đó chú Ba à.
Hải sản và vận chuyển là trách nhiệm của Ba Thơ, chớ không phải đi bắt vượt biên. Ba Thơ sợ tôm hư bị công ty khiển trách, nhưng còn ráng nạt bừa:
- Lải nhải cái con mẹ gì, tụi bây muốn chạy dìa thì tao cho chạy đó... Đ.M. tao đi với biên phòng.
Khoát tay bảo ba tên công an đứng tần ngần chờ lịnh:
- Đi! đi về tàu với tao!

Chúng tôi thở phào, nghe nhẹ nhỏm trên người. Còn xót đau nào hơn, khi phải chở cái loài dã thú này đi lùng bắt đống bào tôi. Anh Ba đi theo sau Ba Thơ và cái đám công an ra ngoài mũi, chờ tụi nó lên hết để tháo dây ngoài mũi.
Ba Thơ leo về tàu xong, quay lại hù doạ:
- Tụi bây khôn hồn à nghen… có thấy tàu tụi nó trốn đâu, về báo văn phòng, thì nhà nước còn thuởng công cho.
Thảy cuộn dây lên trả lại cho thằng công an, anh Ba chống tay vào thành tàu biên phòng xô cho tàu mình dạt ra, nói xuôi theo:
- Dà... thì thấy gì là tụi tui cho chú Ba hay ngay.

Chiếc biên phòng tách ra, quay đầu, rú máy phóng vọt ào ào ra hướng cửa biển. Phút chốc đã thấy nó đang rọi đèn xa phía sau. Chiếc tàu ấy là tàu đánh cá của đồng bào mình biến chế thêm để vượt biển, không may bị chúng nó bắt. Tụi biên phòng lấy nó làm tàu đi tuần, đi bắt tàu vượt biên. Thấy cách nó chạy là biết máy của nó lớn mạnh lắm, chớ không như cái John Deer già nua trên tàu. Không quen biết với tình hình địa phương, bà con mình dễ lầm tàu công an biên phòng với tàu đánh cá, không biết chính nó là tàu của công an. Tụi nó thâm lắm!

- Mình dọt được rồi!
Vũ nói với tôi và gài số cho tàu chạy tới.
Bị tàu biên phòng kè nảy giờ, hai chiếc thả trôi nằm xoay ngang. Nước ngược, đẩy tàu chúng tôi lùi một đoạn khá xa. Tôi lấy lại hướng, cho tàu chạy về bến công ty.
Anh Ba lên mui, đến ngồi cùng băng ghế với tôi, Vũ vẫn đứng chồm người qua khung cửa trổ lên mui, khoanh tay gát trên nấp mui. Ba anh em chúng tôi ngó mông lung trong màn đêm, thẫn thờ cầu nguyện cho đồng bào tôi gặp được nhiều may mắn, trốn thoát khỏi móng vuốt loài quỷ đỏ cộng sản đang lùng kiếm.

Tự Do ơi Tự Do!
Ngày nào còn cộng sản, quê huơng tôi còn lắm ly tan, lắm đoạ đày!

Tháng Tư, 2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét