
Đêm thật dài, giấc ngủ chập chờn chóng vánh theo thân tàu đang nương theo sóng. Tôi khẻ trở mình trên hai miếng ván ghép lại làm băng ghế ngồi lái tàu, và cũng là chỗ ngủ của tôi. Trên băng ghế có mái che nhỏ, đũ che nắng và sương. Hôm nào không mưa to, tôi ngủ trên mui. Tuy phải chui vào nóp để tránh muỗi, nhưng nằm trên này trống khoáng, nghe thấy được tình hình lùng xét của công an từ xa, nhanh lẹ hơn là nằm trong mui kín bít bùng. Rờ lớp đệm làm nóp đã thấm hơi sương lạnh ướt, tôi đoán chừng chắc cũng gần sáng rồi.
Hồi tối, Vũ rót hết phần rượu trong chai vào chén đẩy sang tôi:
- Hết mẹ nó rồi! thôi …tao với mày …chia hai nghen mậy, … mai, mà không mắc sửa máy, tao… tao đi kéo thêm chai nữa mới đã phải hong mậy !
Như phần rượu còn sót lại, bạn bè chia nhau uống lần này, biết đâu cũng là lần sau cùng. Hôm nay và ngày mai không phải là ngày sửa máy. Vũ cố ý mượn rượu giả say nói lớn tiếng cho các ghe tàu đậu kế cận nghe để họ không lưu ý dòm ngó khi chúng tôi bỏ chuyến, nằm bến cả hai ngày.
Theo dự tính, sáng hôm nay từ chuyến xe đò rời bến sớm nhất, gia đình và thân hữu sẽ tuần tự đi đến các điểm hẹn, rồi sẽ xuống tàu theo từng nhóm nhỏ và phương cách khác nhau. Trưa hôm qua, anh Ba, anh rể của Vũ đóng vai chủ tàu và là tài công chính, đi báo với phòng vận chuyển là máy tàu bị hư, không nhận đi chở hàng. Với cớ máy bị hư, anh Ba nói là phải về thành phố tìm mua đồ phụ tùng, để về thu xếp đem vợ và hai con đi theo. Dưới tàu, phần Vũ và tôi tháo nắp máy, bày biện dụng cụ và đồ phụ tùng, tạo cảnh máy hư. Thỉnh thoảng, chúng tôi tay lem luốc dầu máy, thay nhau đi tìm mượn dụng cụ ở các ghe đậu quanh, như đang lo sửa máy. Thực ra, chúng tôi chỉ kiểm điểm lần chót tất cả hệ thống bơm nước và vận chuyển từ máy ra ngoài chân vịt, để sẵn sàng cho chuyến vượt đại đương.
Sau những tháng ngày dài ngấm ngấm tìm tạo điều kiện, tìm cơ hội để vượt thoát, bác của Vũ đã quyết định ngày đi. Tối nay, chiếc tàu 3392 này sẽ làm một chuyến vận chuyển mà không bao giờ trở lại quê hương yêu dấu.
Tôi trăn trở, đi là trốn lánh, xa rời quê hương, bỏ lại đồng đội chiến hữu. Rời bỏ quê hương là bỏ mất những gì cao quý nhất.
Một lần đi, có lần trở lại ?
Nhưng ở lại thì tiếp tục bị tròng cổ, trói tay, cùm chân trong cái lao tù mới, chúng nó gọi là quản chế. Ngày lại ngày, đường tương lai bí cùn, đen thẩm và là chuỗi ngày dài gánh nặng âu lo của gia đình.
Nỗi thương nhớ ba mẹ và các em ray rứt trong lòng, gia đình đã hy sinh cho tôi rất nhiều để có được cơ hội vượt thoát như hôm nay. Từ khi ra đơn vị, chỉ một lần về phép. Ngày đì đường, chưa trọn ngày còn lại với gia đình. Thăm mừng chưa xong đã đến lúc từ biệt. Trở lại đơn vị, Chuẩn Úy Tuyết thay tôi dẫn đơn vị đi đổ toán, đạp mìn, cụt chân trái. Chỉ bốn ngày trước khi Tuyết đi phép kết hôn! Thiếu người, tôi phải theo toán đi ngay, không kịp đi thăm Tuyết, trước khi bệnh viện chuyển Tuyết đi. Lần đi phép duy nhất, gia đình thấy mặt, rồi tôi lại biệt tăm. Ba mẹ trông mong tin tức, không biết tôi còn sống sót hay bỏ xác nơi đâu. Khi tụi cai tù "quản giáo" cho gởi thư thì gia đình mới biết là tôi đã bị bắt từ trưa ngày 30 tháng Tư và đang bị tù đày.
Tháng Tư Đen là địa ngục trần gian!
Là tang tóc đổ lên đầu dân Việt!
Hôm nay, nhìn lại đã gần hai năm ẫn náu trên tàu. Nhớ hôm đạp xe vào ruộng, từ giả ba mẹ để xuống tàu ẩn náu và tìm cách vượt biên với Vũ, ba ân cần đưa cho tôi non chục trứng gà:
- Con mang xuống tàu cho mấy anh em lai rai.
Từ khi ba tôi bất cộng tác, không chịu giãng dạy học trò theo giáo điều của bọn cộng phỉ, bỏ trường lớp về nông thôn làm ruộng, ba mẹ tôi sống chật vật lắm. Đi tù về, thân phận tôi, tôi lo còn chưa xong, nói gì đến việc đáp đền ơn sinh thành dưởng dục Thái Sơn.
Trứng gà còn hơi ấm, ba mới lấy ra từ ổ trứng đang ấp, tài sản rất lớn của ba mẹ tôi trong lúc này. Tôi cố cầm giữ xúc động:
- Con cám ơn Ba và Vú. Ba cho phép con được để trứng lại, cho gà mẹ ấp tiếp tục, tội nghiệp công của gà mẹ lâu nay… Hoàn cảnh nhà mình sa sút anh em đều biết. . . Ba và Vú tha lỗi cho con đã không phụ giúp mẹ cha trong ngày cao tuổi và lúc gặp khó khăn.
Mẹ tôi quay đi, bước vội vào nhà bếp. Mẹ đi tránh dấu nước mắt khi nghe tin phân ly; dù mẹ đã từng hối thúc tôi tìm đường vượt biển và biết trước sẽ có lúc tôi phải đi. Tình mẫu tử suối nguồn dạt dào. Mới những năm vừa qua, mẹ đã bao lần lội ruộng, băng rừng, ngủ vất vưởng qua đêm chờ sáng vào thăm con. Bây giờ, con lại ra đi, lần này từ biệt hay là lần vĩnh biệt.
Ba quen trầm tỉnh nhận giữ mất mát:
- Con chỉ cần lo sao cho các em sớm đoàn tụ là Ba và Vú mãn nguyện lắm rồi. Anh em dưới tàu cũng thừa biết, có thời gian nên tính toán cho thận trọng, làm một lần cho thành công. Ba hay nói đi nói lại câu nói của anh hùng Nguyễn Thái Học, con ghi nhớ: "Không Thành Công, cũng Thành Nhân"
Ba đưa tay cho tôi bắt. Tôi ngạc nhiên, cầm lấy bàn tay của Ba và nhìn ánh mắt nghiêm nghị của Ba:
- Con xin hứa! Cám ơn Ba rất nhiều. Xin Ba và Vú giữ sức khoẻ chờ con. Con thoát được thì gia đình mình sẽ đoàn tụ.
Nghe tiếng tôi bước vào gọi tìm, Mẹ gạt nhanh nước mắt, nhìn tôi gượng cười:
- Củi còn ướt, khói quá, làm cay mắt Vú… Thấy cũng chiều rồi, Vú tính làm miếng cơm, cho cha con ăn. Ba khuyên nên để con đi sớm, không nên nấn ná trong xóm này lâu. . . Thôi, con đi với anh em… mạnh giỏi!
Đến lúc này, tôi nghẹn lời, nhìn mẹ tôi giữ nụ cười qua màn nước mắt.
Tiếng dân chúng chở hàng ra chợ buôn bán nghe nhộn nhịp hơn, tôi hé nóp nhìn những ngọn đèn dầu trên ghe xuồng, lung linh nhấp nhô theo nhịp bơi chèo ngoài sông.
Không ngủ thêm được, nằm cũng không yên, tôi chui ra khỏi nóp, quấn mền ngồi đốt thuốc hút.
Sáng sớm, bến tàu thật yên tỉnh. Hàng đèn vẫn còn đó, ánh sáng vàng buồn quen thuộc trong đêm đen. Trụ đèn, thân gầy guộc đứng gục đầu nhìn sóng nước, như tiếc sao mình không được làm một con tàu, như những chiếc đang cột chen chút nhau quanh bến, biết đâu sẽ có một ngày nào đó, được cùng thuyền nhân vượt thoát đến bến bờ Tự Do.
Hôm nay trời không mưa, gió lặng, sóng nước thật yên bình.
Tôi nhìn ra hướng cửa biển, bâng khuâng lo lắng, thầm cầu nguyện ơn trên cho yên bình đến tất cả thuyền nhân, với chuyến ra khơi của chúng tôi.
Có tiếng động bên dưới mui tàu, chắc Vũ cũng không ngủ được, đã thức dậy sớm. Tôi ngồi nán lại, hút cho hết điếu thuốc. Muỗi ở đây trông như đã quen hay cũng ghiền khói thuốc. Mới ngồi dậy đốt xong điếu thuốc thì chúng nó ào ào kéo nhau bâu bám khắp nơi có da thịt. Lấy tay đuổi chỗ này, chúng đáp vào nơi khác. Tôi bất cần, bỏ mặc chúng châm chít, cứ ngồi thưởng thức điếu thuốc đầu ngày, nghe chúng vi vo bên tai:
- Như thế này là nhất rồi, hồi bị tống vào trong connex làm gì có nóp, có mùng mền.
Nhìn cái bụng con muỗi phình to tròn mà vẫn cấm chúi đầu đâm hút trên tay tôi:
- Lũ ruồi muỗi chuột bọ chúng mày y hệt như loài súc sinh cộng phỉ, hở ra là bâu vào cắn hút máu mủ để sống!
- Ê!... Vinh!... Cà phê, mậy!
Vũ hé nắp mui tàu, gọi tôi trở về với thực tại.
Lấy mền quạt mạnh xua đám muỗi bay cho xa, tôi thả người tuột lẹ xuống mui rồi đậy nấp mui lại.
Ghe tàu đậu kế cạnh còn yên ngủ. Như phòng chung vách ván, chúng tôi e dè kín đáo để bàn tính thêm những việc cần thiết cho chuyến đi hôm nay. Chưa được hai năm, nhưng mong đợi làm ngày tháng thấy dài đăng đẳng, rồi đến ngày ra khơi thì lắm việc phải làm cho kịp với thời gian.
Cảnh tượng đồng bào vượt biên đã phải trả cái giá cho ước vọng tự do bằng oằn người chịu đựng trận đòn thù tra tấn, bằng sinh mạng của mình, tất cả uất hận nằm trong ký ức, giờ trỗi dậy, nghe xót đau chừng như mới vừa hôm qua.
Đã qua gần nửa thế kỷ, từ giữa thập niên 1950, hình ảnh "thuyền nhân" Vinh vượt tuyến tìm Tự Do trong phim "Chúng Tôi Muốn Sống", cùng tất cả các chứng tích và tội ác man rợ của chế độ cộng sản hảy còn đó, âm vang oán hờn. "Chúng Tôi Muốn Sống" vẫn là hiện thực, vẫn tiếp nối nhau tái diễn từ Bắc vào Nam. Hàng triệu "thuyền nhân" Vinh từ sau tháng tư năm 1975, may mắn thoát khỏi bọn cướp "cạn" cộng phỉ man rợ, còn phải đối đầu với bọn cướp biển dã man. Không ai có thể biết chính xác được bao nhiêu triệu "thuyền nhân" Vinh đã trốn đi mà không đến được bến bờ Tự Do như mong ước!
Tôi nhìn đồng hồ, ngày đã khởi đầu và vụt qua mất sáu giờ. Một ngày trọng đại khởi đầu cho chuổi ngày định mệnh. Định mệnh của con tàu 3392 này và tất cả sinh mạng nó sẽ mang theo. Đến lúc này, lo lắng trách nhiệm đã lấn át mọi sợ hãi.
Một lần đi, là mãi mãi thương đau!
Đã biết rằng, ra đi là chấp nhận cái chết, thuyền nhân của chiếc 3392 chỉ còn con đường duy nhất, phải vượt thoát !
Một Lần Đi - Sáng tác: Nguyệt Ánh
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một lần đi là một lần vĩnh biệt
Một lần đi là mòn lối quay về
Một lần đi là mãi mãi thương đau
Người tình ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một lần đi là nghìn trùng cách biệt
Một lần đi là muôn kiếp u sầu
Một lần đi là vĩnh viễn xa nhau
Giọt nước mắt cho anh
Giọt nước mắt cho em
Giọt nước mắt cho bạn bè
Lệ khóc cho mẹ già
Lệ khóc cho ngườ tình ở lại quê hương
Lần cuối xé tay nhau
Lần cuối khóc bên nhau
Lời cuối sao nghẹn ngào
Còn đó bao đoạn đường
Còn đó bao đoạn tình bỏ lại sau lưng
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
Mẹ hiền xưa, giờ về cùng đất lạnh
Bạn bè xưa, giờ phương Bắc lưu đày
Người tình xưa, giờ đang sống điêu linh
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một ngày qua là một ngày ly biệt
Một ngày qua là ta mất nhau rồi
Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi
4.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét