NGHÌN TRÙNG CÁCH BIỆT

Từ giữa năm 1954 đến năm 1956, cả triệu người phải bỏ lại quê nhà cùng thân quyến ở miền Bắc, di cư vào Nam để lánh nạn cộng sản dã man. Chưa kể những người liều mỉnh lén trốn đi như đội trưởng Vinh trong Chúng Tôi Muốn Sống. Năm 1975,mặc dù bị ngăn chận ruồng bắt, cũng vì Tự Do hàng triệu thuyền nhân đành phải chấp nhận mọi thương đau, kể cả mạng sống để vượt thoát loài cộng phỉ man rợ. Triệu ngườì may mắn còn sống sót thì hàng trăm ngàn thân xác đã chìm trong lòng đại dương, vùi dập trong rừng thẩm và tù đày của cộng sản. Dân miền Nam than oán rằng: cột đèn mà đi được, cũng tìm đường để vượt biên!
Lúc chờ đợi thì tháng ngày tưởng như không bao giờ đến, đến ngày ra đi thì thời gian còn ở lại với quê hương như hôm nay sao quá ngắn ngủi. Vũ với tôi bây giờ ngồi thừ người ra với những luyến tiếc, ưu tư, lo nghỉ, biết bao điều chồng chất và xoáy vòng trong đầu óc.
Phần tôi, khi từ giả để trốn xuống tàu với Vũ, gia đình đã coi như là đã mất tôi rồi. Ba tôi có một thời đóng quân ở Phú Quốc, nên khá quen thuộc với tàu thuyền qua lại trên biển. Ba rất lo âu khi thấy chiếc tàu của chúng tôi. Vỏ tàu mũi bầu đã cũ, loại người ta chỉ dùng để chở cây chở hàng trên sông. Với cái mũi bầu bằng như thế này, tàu sẽ khó điều khiển, không thể chẻ sóng biển để chạy được mà còn dễ bị sóng đập bung ván lườn. Cái máy thì lấy từ chiếc John Deer rỉ sét, bị bỏ phế từ khi miền Nam bị cộng sản chiếm đoạt; và chúng tôi thì trên sông còn chưa từng biết cầm lái tàu mà bày tính chuyện vượt đại dương. Ba về than với mẹ, chúng tôi có thoát được là phải trông nhờ vào ơn phước. Cha mẹ thương con nên lo lắng, thực ra ai cũng biết đồng bào mình vì Tự Do đã sẵn sàng vượt biển, bất chấp sóng to hay thuyền bè mong manh. Có được bất cứ phương tiện nào để trốn đi, đã là ơn phước to lớn lắm rồi. Hôm nay, tôi trốn đi đơn độc, phận mình phải chết thì không có gì phải lo âu vướng bận. Nhưng Vũ thì còn nhiều gánh nặng lắm, nhìn thằng bạn cứ mồi thuốc hút liên tục tôi biết nó rất bồn chồn lo lắng cho gia đình, nhất là vợ trẻ bồng bế con thơ. Tôi nghỉ là nên khuyên nó đi sớm lên chợ cho khuây khoả, hơn là ngồi đây chờ anh Ba đem tin xuống. Hơn nửa, tin tức và bàn tính công việc trên chợ vẫn dễ hơn là ở đây, ghe tàu đậu vách kề vách. Tôi bàn với Vũ:
- Ê, chuyến xe đầu cũng sắp tới bến rồi. Tao coi tàu, mày thả lên bến đón anh Ba với mấy cháu… đi ăn sáng cho vui.
- Ừ, …tao đi chợ với anh Ba luôn thể. Mày giúp tao kiếm thằng Hải, nhắc nó đi kêu ghe "đổi nước", tao có dặn nó hôm qua.
Chiếc xuồng chở cái thùng phuy, chứa gần hai trăm lít nước, nặng khẳm, nằm lấp lé mặt sông. Tôi ái ngại nhỉn người đàn ông trọng tuổi, dáng nhỏ gầy vừa giữ thăng bằng cho chiếc xuồng, vừa múc chuyền từng thùng nước lên cho tôi. Đến tuổi làm ngoại nội, ông còn vất vả lo tìm từng hạt gạo. Nước cho chuyến đi đã được chúng tôi kín đáo dự trử trong các thùng nhựa, do công ty ứng cấp cho các tàu vận chuyễn để chứa hàng đông lạnh. Trưa nay, chỉ cần châm thêm một lần nữa để bù lại khoảng nước đã dùng, nếu tiết kiệm thì hai tuần vẫn còn nước uống.
Bác Sáu kéo khăn lau mồ hôi lấm tấm trên mặt, thăm chuyện:
- Bửa nay chạy hướng nào đây cậu?
Tôi trả tiền công và dặn dò thêm:
- Máy hư, hai ngày rồi bác Sáu ơi, chưa biết chừng nào mới chạy được… Bửa nay còn sửa máy chắc cần xài nhiều nước. Trưa trưa, chừng 11 giờ bác Sáu trở lại, cho tụi cháu "đổi" thêm nước nghen bác.
Đây là ghe "đổi nước" mà Hải đã giúp gọi đem nước đến.
Mới nghe qua tiếng rao mời "đổi nước" trên sông, hầu như ai cũng ngạc nhiên, suy nghỉ. Hiểu ra, tôi thêm thán phục tinh thần quý trọng Tổ Quốc của dân tộc mình. Đó là những người dùng chiếc xuồng nhỏ, chở cái thùng "phuy" chứa nước, để cung cấp nước ngọt cho ghe tàu ở vùng nước mặn. Họ làm cái nghề ít vốn này, lấy công sức chở nước để "đổi" lấy tiền mà sinh sống và gọi là "đổi nước". Người Việt Nam, từ người bình dân ít học cũng đã biết ý nghĩa vô cùng nhục nhã của từ ngữ "bán nước".
Đồng bào mình không ai chịu rao gọi "bán nước" !
Trong khi quân đội của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà anh dũng hy sinh, quyết chiến đấu với cộng sản và quân xâm lược Trung Cộng để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, thì từ ngày 14 tháng 9 năm 1958 tên cộng sản Phạm văn Đồng đã ký công hàm dâng đảo, bán nước Việt Nam cho quan thầy Trung Cộng của chúng nó. Bè lũ hồ cáo súc sinh cộng sản đã nhẫn tâm bán nước Việt Nam để được vinh thân và vênh váo trơ tráo xưng tụng nhau là đảng viên của đảng cộng sản.
Tội bán nước nhơ nhuốc của đảng cộng sản Việt Nam muôn đời không bao giờ rửa sạch được. Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ tha thứ cho bè lũ phản quốc "bán nước" đang xưng danh là cộng sản Việt Nam.
Tổ Quốc Việt Nam với ngàn năm hồn thiêng sông núi, với ngần ấy tội ác của cộng sản, với oán hận chất ngất cùng khắp ba miền đất nước; tôi tin chắc rằng:
Sẽ có một ngày,
Đêm đen chợt bừng sáng.
Người gọi người:
Thức tỉnh cơn mê!
Phá gông cùm!
Xé cờ đỏ!
Bỏ đảng, cứu dân oan!
Hết cộng phỉ, đêm tàn ngày rạng!
Ánh cờ vàng rực sáng nước Việt Nam.
Đang đứng trong lòng tàu múc nước châm vào cái thùng nhỏ để đem lên mui uống, thấy tàu chợt nghiêng chóng vánh, và có tiếng chân bước lên mũi tàu, tôi ngó lên:
- Mới tới hả anh Ba? Anh có gặp Vũ ?
- Có chớ, mấy cha con ăn sáng với nó trên quán chú Hón nảy giờ đây… Hai đứa khoanh tay thưa "củ" Vinh đi con … Nó gặp bè bạn kéo lại, còn ngồi nói dóc ngoài chợ đó "củ"
Anh làm rể gia đình người Tiều, có khi xưng là "hia" và gọi "củ" thay vì cậu, hoặc cậu em. Thấy anh vui vẻ tôi an tâm ngay về việc di chuyển của nhóm đầu, hầu hết là thanh niên trai trẻ. Để tay mắt trong xóm và phường khóm không nghi, anh Ba dẫn hai con đi trước. Chị Ba chờ trưa trưa một chút, sẽ lẻn đi lấy xe đò xuống tàu sau.
- Mới "đổi nước", sàn tàu ướt trơn lắm… Hiền, Hiếu lại đây cậu bồng thả vào trong cho đừng trợt té nghen.
Tôi nói và đưa tay đón con anh Ba, bồng thả vào phía trong lòng tàu. Trẻ con lớn thật nhanh, Hiếu là đứa em, chắc cũng sắp đi học. Hai anh em rất ngoan hiền, càng lớn trông càng giống anh Ba, nhất là ba cha con mới đi hớt tóc một lượt, một kiểu. Anh rể của Vũ có vóc dáng như nhân vật tên Vọi của Khái Hưng và trông rất chất phát, nhưng nghề may đồ "tây" trong xã của anh Ba thì nhàn hơn chàng Vọi trong truyện Trống Mái. Anh còn có tài nấu ăn, làm đồ nhậu cũng rất nghề.
Anh Ba chuyền mấy bịch đồ mua để nấu ăn xuống cho tôi:
- "Củ" để đâu đó trong mui dùm anh, rồi lên chợ… Vũ nó chờ ở trển…
Tôi hiểu ý anh Ba, Vũ không tâm trí đâu mà "ngồi nói dóc". Trên ấy, chợ sáng ồn ào, dễ bàn tính công việc hơn ở dưới bến, ghe tàu đậu san sát nhau.
Vũ kéo cái ghế ở bàn bên cạnh sang, cho tôi xen vào ngồi ăn và bàn tính cách bốc rước người hôm nay. Tôi mừng tin bà con đến đầy đũ, nhưng rất thất vọng về phần trang bị vũ khí bị thất bại. Người quen biết với gia đình Vũ, đi nghĩa vụ, chuyên móc nối mua bán súng đạn cho tàu vượt biên đã bị bắt. Nhìn qua khách trong quán, tôi thấy em của Vũ là Tài, Dân, Duy ngồi với một nhóm người trong góc quán. Hai cái bàn gần cửa cũng có vài thanh niên trang lứa với Tài, tôi nhớ là con cháu của người bác. Phải công nhận, anh Ba và Vũ khéo dặn dò, nếu tôi không biết mặt thì cứ tưởng họ là dân mua bán, người địa phương.
Bàn tính xong, mấy đứa em mặc áo công nhân viên làm như thợ máy cùng bè bạn theo chúng tôi xuống ghe để giúp sửa máy tàu rồi gầy độ nhậu.
Ghe tàu kéo rũ bè bạn xuống ăn nhậu là việc rất bình thường, nhất là khi bị hư máy nằm bến như tàu chúng tôi. Những người lạ mặt, sau khi được dẫn xuống tàu, ngồi ăn uống trên mui một lúc, sẽ rút êm xuống bên dưới ẩn thân. Anh Ba ngồi trên mui, vừa làm "chủ xị" đám nhậu, vừa sắp xếp người lên bến và xuống trốn dưới khoang, vừa canh chừng tình hình xung quanh. Chốc chốc, có người thay nhau lên bến đi mua thêm rượu hoặc đồ nhậu, khi xuống sẽ dẫn thêm vài người khác theo. Đi lên ít người, xuống nhiều người hơn, cứ thế mà thay và lòn người xuống tàu. Đám nhậu ồn ào, người lên ngườì xuống, làm rối mắt người chung quanh, và nếu không chú tâm theo dỏi kỹ, quanh đi ngó lại thì thấy chỉ có lố nhố sáu bảy người ăn nhậu trên mui, không có gì là khác thường cả. Phần Vũ và tôi ráp lại các bộ phận lặt vặt đã tháo ra để nguỵ tạo máy bị hư từ hôm qua và dọn dẹp hầm máy. Biết máy vẫn chạy tốt, mọi thứ cần thiết cho vận chuyển cũng đã lo xong, chúng tôi chỉ kéo dài cái cảnh vừa sửa máy vừa ăn nhậu, để xuống người.
Vũ rủ tôi lau tay, leo lên mui với anh em. Nó đưa ly rượu cho anh Ba và chỉ chiếc xuồng đang cặp vào bến, nháy mắt với ông anh rể:
- Vô với tui một cái đi "hia", rồi làm vài câu cho bà con nghe.
- Khà!... Hò ơ... !... à!
Vị rượu đế gắt quá, anh Ba tằn hắng, lấy lại giọng, mắt nhìn cô nàng bán xôi mà thằng em vợ mới chỉ điểm:
"Hò ơ… ơ… ơ…ơi!
Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm, công tôi cực lắm, mưa nắng dãi dầu.
Chiếu này tôi chẳng bán đâu. Tìm cô không gặp...
Hò ơ... tìm cô không gặp…. tôi gối đầu mỗi đêm..."
Bản ruột của anh Ba, anh chịu hát bài Tình Anh Bán Chiếu này lắm. Anh cất giọng thì mấy cái miệng rượu vào lời ra ồn ào trên mui đều yên lặng hết. Dỉ nhiên là anh hát không thể nào bằng các bậc thầy như Út Trà Ôn được. Tôi không biết phê bình người hát vọng cổ hay dở chỗ nào, nhưng chắc chắn một điều là anh Ba hát hò rất có duyên. Anh Ba hò ơ đến đây thì cô nàng bán xôi không còn giữ e dè được nửa, nghiêng vành nón, tò mò liếc mắt ngó tìm người hò và gặp ngay anh Ba đang nhìn cô tủm tỉm cười. Anh Ba nhịp nhàng tiếp ngay vào đoạn vọng cổ:
" Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy,
sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra . . . . chào!"
Chữ "chào" anh xuống câu thật ngọt ngào. Làn hơi âm a ngân nga chưa hết, bốn ánh mắt lại gặp nhau. Tôi nghỉ, nếu không có cái đám nghí ngố ăn uống này thì thật là một đoạn phim tình, rất là tình.
Anh Ba cũng biết, gần hai năm nay, vóc dáng và những bài vọng cổ mộc mạc của anh đã giúp khoả lấp những nghi ngờ có mưu đồ vượt trốn của chiếc tàu này rất nhiều. Anh sắm tuồng và nhập vai thật sống động. Chúng tôi rất may mắn có anh theo giúp lâu nay và mang ơn anh Ba rất nhiều.
Ngồi lai rai một lúc, thấy gần tới giờ hẹn rước người ngoài chợ, chúng tôi tuột xuống hầm, lo cho máy chạy. Nhóm người ẩn bên dưới thấy chúng tôi xuống, nhìn dọ hỏi. Vũ nói với tôi, cùng nhắn gởi cho bà con dưới tàu bớt lo âu:
- Tụi mình cho tàu chạy một vòng ra chợ.
Vũ làm cho cái John Deer ngoan ngoản của chúng tôi phải khởi động nhiều lần rồi mới nổ máy chạy đều. Biết thằng bạn cố tình khoá ống dẫn dầu vào máy một lúc, để làm như máy sửa chưa được tốt lắm, tôi yên tâm đi ra phía trước để tháo dây mũi.
- Máy sửa được rồi hà anh Vinh?
- Hồi nảy đề sao thấy còn hục hặc quá. Tính chạy thử một vòng, rồi quay về sửa tiếp.
Tôi trả lời thằng Biên, đang đứng trên bờ thăm hỏi.
Biên là nhân viên giữ chiếc tàu của công ty. Chiếc tàu này đã neo cột ở bến không biết từ lúc nào, khi chúng tôi gia nhập đoàn tàu vận chuyễn thì đã thấy nó nằm sát bờ. Chưa bao giờ nghe thấy tàu rời bến đi đâu cả và cái tên Biên này cũng chẳng thấy làm gì khác hơn là ngày qua ngày tà tà "giữ tàu cho công ty", như nó bảo với mọi người. Ai cũng nghi là thằng Biên nó "nằm vùng" để nghe ngóng tình hình dưới bến, nên thường tránh đậu gần. Chúng tôi nghỉ, càng tránh né nó càng nghi, chi bắng cứ liều đậu sát bên, cho thằng Biên yên tâm và dần dà sinh lơ đểnh, gần quá biết đâu làm cho nó khó thấy rõ hơn. Cho nên, lúc nào về bến, có chỗ trống là chúng tôi đậu cặp vào chiếc tàu của công ty rồi kết thân với thằng Biên.
Lâu ngày, biết được rồi, thì Biên không còn đáng ngại lắm. Ngày và giờ làm việc, hể bày ra uống rượu ồn ào thì Biên thường không dám sáp vào, chắc nó sợ bị "kiểm điểm". Hơn nửa, Biên lại có thói quen, sáng nào cũng lên quán ăn sáng, la cà ngoài chợ, mua thức ăn, đến khoảng mười một giờ mới trở vể tới tàu.
Biên thăm dò:
- Mấy anh thợ máy này coi bộ cũng biết sửa quá chứ.
- Ừ, tụi nó làm cho công ty nhà nước mà,.. dìa thăm nhà nghe anh Ba nói, đi theo xuống sửa giùm… Máy hư nằm húp cháo, sáng giờ chỉ cho uống rượu trừ công.
Tôi cười và lấy gói thuốc hút, đưa mời thằng Biên cùng đám bạn ghe tàu đứng gần, để cắt câu chuyện thăm hỏi về tàu, rồi đi tháo dây mũi:
- Chạy được rồi anh Ba ơi!
Vũ và anh Ba cũng nghe thấy Biên la cà thăm hỏi tôi nảy giờ, hiểu ý tôi, cho tàu rời bến ngay.
Mới đến trưa, chợ vẫn còn đông. Lợi dụng cảnh lên xuống mua bán lu bu ở bến tàu ngoài chợ, chúng tôi bốc thêm một số thân quyến. Đây là nhóm người lớn tuổi, có gia đình dẫn theo trẻ con; họ giả bạn hàng hoặc dân đi chợ đến thăm hỏi và xin quá giang tàu.
Lúc nảy, tàu rời bến công ty,thì đám thanh niên ăn nhậu trên mui đã rút hết xuống dưới khoang. Bây giờ có người xuống tàu, để hợp lý, năm bảy người trông giống dân địa phương ngồi lại trên mui với thúng rổ đựng hàng hoá rau cải, còn lại xuống lánh mặt dưới khoang. Tuy chợ đông người xô bồ, nhưng công an và tay mắt cũng rất đông, nấn ná lâu rất dễ bị lộ, tôi hỏi thăm Vũ:
- Anh Ba? chị Ba?
Vũ lo âu nói nhỏ:
- Ảnh lên chợ mấy lượt mà vẫn chưa tìm được chỉ… nảy giờ ảnh mất biệt ở trển.
- Hay là, mày dọt lên ngó tiếp ảnh?
- Ừ, tao đi. Nán thêm vài phút, không thấy chỉ thì tao kéo ảnh xuống… lâu quá bể mẹ nó hết.
Vũ nói rồi lấy cái giỏ xách, đi lên chợ, như đi mua thức ăn.
Trên tàu bây giờ đã hơn hai chục người, tôi chỉ biết mấy đứa em của Vũ và con của bác mà thôi. Tôi nghỉ, không lấy được vũ khí, nhưng còn mấy đứa em ngang tàng chịu chơi này cũng an ủi cho tàu nhiều lắm. Nhờ cái mui lá để che nước đá và hải sản đông lạnh mà công ty bắt phải làm khi ký hợp đồng, hôm nay dễ dấu người trong tàu.
Nhìn anh Ba đi cùng Vũ trở xuống tàu với dáng mệt mỏi, tôi biết mình không nên hỏi thêm điều chi về chị Ba, mà tìm cách cho anh được nghỉ ngơi:
- Chắc tôi coi lái, để xem hai cháu có cần ăn uống gì thêm, nghen anh Ba?
- Ừ, … "củ" lái giùm anh!
Anh Ba thẫn thờ bảo tôi, rồi vào trong mui. Bên dưới có tiếng Hiếu và Hiền theo anh Ba hỏi nhắc mẹ. Ở một nơi nào đó, chắc chị Ba cũng rất lo sợ khi bị lạc, gia đình bị phân ly, không biết khi nào hay làm sao để tìm gặp chồng con. Từ tháng Tư năm 75, tang thương đã theo chân loài cộng sản tràn ngập xuống miền Nam, biết bao gia đình bất chợt phải vương vào cảnh từ biệt đớn đau.
Rời chợ, trong vòng chạy thử máy, tàu ghé các nhà quen rước thêm người. Chúng tôi hy vọng chị Ba lạc sang các nơi này, nhưng rồi không ai thấy biết gì thêm về chị. Vũ đứng lặng thinh ngó tìm theo những chiếc xuồng bơi chèo hai bên bờ, mong sao thấy được chị của nó
Tôi hạ bớt tốc độ máy, nói với Vũ:
- Sắp vào bến công ty, chắc mình phải nhắc bà con bên dưói kín đáo và ráng giữ mấy em nhỏ yên lặng.
Thật may, đúng như chúng tôi dự định, thờì điểm này có nhiều ghe tàu chở hàng về bến. Bến tàu đang đầy ghe tàu, và công nhân lên hàng chộn rộn. Tôi cho tàu chạy thật chậm, làm như muốn tìm chỗ vào bến đậu. Thấy tàu về, Biên bước ra đón và thăm hỏi:
- Chạy ngon chưa anh Vinh?
Tôi nói vọng sang trả lời, cũng để các ghe tàu khác cùng nghe:
- Chưa! Lúc được lúc không...Mới nằm ngoài chợ đây…Tính ghé vô nghỉ mệt mà hỏng có chỗ. Thôi, tụi tui chạy luôn qua xưởng ông Năm đậu, sửa tiếp cho dễ, với lại nhờ ổng coi lại con "heo dầu"… Sửa xong, dìa lại bến, tối nay phải nhậu bù mới được. Ê, còn nồi canh chua anh Ba nấu hồi trưa, ngon hết xẩy, tối nay qua lai rai nghen!
- Ừa, ông Năm ổng "canh heo dầu" nghề lắm… Tối, tui qua chơi!
- Ừ, tối nay mình nhậu!
Tôi vẩy tay cười và đẩy cần lái hướng mũi ra ngoài sông, cho tàu chạy tiếp. Vậy là Biên và đám ghe tàu trong đoàn đã thấy chúng tôi còn quay về, và nghe là chúng tôi qua xưởng máy để sửa tiếp. Họ sẽ không thắc mắc lắm, nếu không thấy chiếc 3392 này về bến đêm nay.
Rời bến công ty, chạy sang xưởng sửa máy tàu của ông Năm, chúng tôi mướn cắt hàn ống khói tàu, để ráp bộ hảm thanh khác. Bình thường, phải để tiếng máy nổ bình thường cho giống như các tàu khác. Tối nay, chúng tôi rất cần tránh để tiếng máy vang xa lên bờ, cho dễ len lỏi ra cửa biển. Bộ giãm thanh này, đã đặt làm riêng, cất dưới tàu chờ dịp dùng cho lúc chạy trốn như hôm nay. Có đo tính trước, nên cắt ráp nhanh gọn, chốc lát thì xong. Chúng tôi kéo dài thời gian, để nương nhờ bến tàu của ông Năm mà rước thêm người.
Vũ rất mừng, vợ con của nó và gia đình người anh thứ Hai cũng đã đến điểm và xuống được tàu. Bây giờ, anh Ba trở nên lo sợ và bối rối khi không thấy chị đi theo gia đình Vũ. Anh Ba không thể bỏ đi, khi không biết chị đang ra sao, trở về nhà an toàn hay đã bị bắt, ai sẽ thăm nuôi và lo lót cho chị được thả về. Anh về tìm vợ thì Hiền và Hiếu thành hai trẻ không mẹ cha chăm sóc. Mang hai con về theo, thì tương lai con trẻ lại chui trở vào mù mịt trong xã hội ngục tù cộng sản. Đến lúc này thì không còn thời gian chờ tìm chị Ba, tàu phải tiếp tục cuộc hành trình để rời cửa biển trước khi trăng lên. Đây còn là trạm cuối, để đi bộ lên chợ. Giờ này, xe về thành phố không còn bao chuyến sót lại. Mỗi phút qua, lại thêm bồn chồn lo lắng. Ở ngoài mũi cuộn dây, cất neo vào hầm mũi cho gọn và an toàn để chuẩn bị chạy trên sóng to ngoài biển, tôi biết bên dưới tàu buồn lo ngột ngạt lắm. Gia đình Vũ phải tìm cách và quyết định. Anh Ba vỗ về Hiền và Hiếu rồi gởi hai con cho anh chị Hai cùng vợ chồng Vũ. Nhìn anh ôm lau nước mắt cho hai đứa con, tim gan nào cũng thấy đau xót.
- Anh phải về kiếm chị.
Anh Ba dừng lại nói nhỏ với tôi vài lời, rồi vội vã rời tàu đi lên bến tìm chị, tìm xe về thành phố. Dù biết anh không thể cùng chúng tôi trốn đi, khi chị đã bị lạc và không tin tức, tôi vẫn lặng người khi nghe anh từ biệt. Chung sống với nhau trên tàu, chúng tôi như ba anh em ruột, bây giờ tôi đứng đây, chỉ còn biết nhìn anh đơn độc rời tàu.
Xưởng của ông Năm cách công ty một đoạn sông khá xa. Đứng đây, nhìn ngược về bến cảng quen thuộc, nó đã khuất sau khúc sông uốn quanh. Đếm luôn Vũ và tôi, thì con tàu mười lăm tấn này đang mang theo bảy mươi ba người. Ngần ấy sinh mạng đang nằm trọn trong con tàu cùng định mệnh. Hành trình vượt sóng tìm tự do chưa đi được bao xa, khắc nghiệt đã đến với gia đình anh chị Ba, thương tội cho anh chị và hai đứa trẻ vô cùng.
Nước đã đổi chiều, giữ con tàu chậm chậm nương theo giòng nước đang chảy đổ ra cửa biển. Quay nhìn lại giòng sông đục màu phù sa phía sau, tôi thấy xót đau trong lòng, chúng tôi đang xa rời quê mẹ Việt Nam cùng những người thân thương yêu dấu.
Một lần đi có phải chăng sẽ là nghìn trùng cách biệt!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét