18 tháng 12, 2012



CÂU CHUYỆN CỦA MỘT ĐIỆP VIÊN CIA NGƯỜI VIỆT








     Trong suốt chiều dài của cuộc chiến Việt Nam, nhiều công dân Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam) đã bị chính quyền của nhà nước này bắt giam như Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế là thành phần sinh viên học sinh. Một số nhân vật khác, không bị giam cầm, như Phạm Xuân Ẩn, Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ là những người làm việc trong nhiều cơ quan và tổ chức công quyền tại miền Nam. Sau ngày 30 tháng Tư họ đều lộ diện rõ là những cán bộ được cộng sản cài đặt.

     Cũng trong thời chiến tranh, tuy có những người Việt làm việc cho cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ, tức CIA, nhưng cho đến nay chưa một ai tiết lộ tung tích. Trừ trường hợp của Yung Krall, tức Đặng Mỹ Dung, một phụ nữ Việt muốn cứu gia đình ra khỏi Việt Nam trong những ngày trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và trở thành điệp viên cho CIA. Nhưng bà không hoạt động trong thời chiến tranh mà chỉ làm điệp viên sau ngày 30 tháng Tư 1975 với công tác xâm nhập những tổ chức “Việt kiều yêu nước” tại Hoa Kỳ và Pháp Quốc.
     Câu chuyện và cuộc đời của nữ điệp viên CIA Đặng Mỹ Dung được bà kể lại trong 412 trang sách của cuốn tự truyện A Thousand Tears Falling (Ngàn giọt lệ rơi) [1].
     Như nhiều gia đình Việt Nam đã sống qua thập kỷ 1950, gia đình của Mỹ Dung bị chia cắt bởi những luồng ý thức hệ du nhập vào mảnh đất quê hương trong những năm trước và sau dấu mốc thời gian của Hiệp định Genève 1954.
     Dòng tộc của Mỹ Dung thuộc thành phần nông dân - tiểu tư sản ở miền đồng bằng Cửu Long, nhiều người thân tin vào “chủ nghĩa xã hội” nhưng cũng có người không tin và thích lối sống Tây phương, có người tin vào “cách mạng” và cũng có người coi Hồ Chí Minh là “đồ chó đẻ”. Đặng Mỹ Dung sinh năm 1946, thuở nhỏ rất yêu lá cờ đỏ sao vàng, thích hát quốc ca, và thường hay có dịp nghe cha mẹ, dì dượng tranh luận về ý thức hệ mà với đầu óc non nớt, cô bé miệt vườn không hiểu gì, chỉ được người lớn nhắn nhủ rằng: “Con còn nhỏ chưa hiểu được”.
     Cha của Mỹ Dung, ông Đặng Văn Quang, hoạt động cách mạng nên nơi ông và gia đình sinh sống đã là điểm gặp gỡ, hội họp của những cán bộ như Lê Đức Thọ và Lê Đức Mai. Lê Đức Thọ sau này là trưởng đoàn thương thuyết tại Hòa đàm Ba Lê; còn Lê Đức Mai, tức Mai Chí Thọ, là bộ trưởng công an của Hà Nội.
     Tung tích của gia đình Mỹ Dung ít ai biết được vì trước khi tập kết và đem theo người con trai cả là Đặng Văn Khôi, ông Quang đã cho điều chỉnh giấy khai sinh của những người con thành ra những đứa trẻ mang họ Trần của mẹ, không cha và cho hủy đi tất cả những hình ảnh gia đình có mặt ông trong đó. Cô bé Đặng Mỹ Dung nay thành Trần Ngọc Dung.
     Sau khi đất nước chia đôi, dòng tộc của Mỹ Dung có tất cả tám người tập kết. Đặng Văn Quang rời bỏ vùng đồng bằng Cửu Long, nói là tập kết ra Bắc nhưng thực sự từ năm 1954 đến 1960 ông được bố trí hoạt động ở miền Nam, trong những “vùng giải phóng”. Khi ông đi rồi, cán bộ sử dụng kỹ thuật tuyên truyền để gia đình ông phải chú ý nghe đài Hà Nội, một cách tuyên truyền của cách mạng được bà Đặng Mỹ Dung kể lại trong cuốn tự truyện. 


     Dân làng, là cán bộ hay có cảm tình với cánh mạng, thường nói với mẹ của Mỹ Dung rằng họ đã nghe được chính giọng nói và cả tiếng đàn vĩ cầm của Đặng Văn Quang và người con trai cả trên làn sóng đài phát thanh Hà Nội, khiến bà mẹ phải tìm cách nghe đài mỗi đêm, dù việc này thời đó bị chính quyền miền Nam cấm, bị cảnh sát theo dõi, nếu bắt được có thể phải ở tù. Nhưng nhiều tối nghe hoài cũng không thấy giọng của người chồng và đứa con đầu lòng mà bà hằng thương yêu. Sau này gia đình biết được Đặng Văn Quang chẳng bao giờ lên tiếng trên đài Hà Nội trong những năm từ 1954 đến 1960, là thời gian ông chưa ra Bắc. Cán bộ địa phương tung các loại thông tin như thế để nhiều người tìm cách nghe những lời tuyên truyền của đài Hà Nội hơn.


     Sau khi người cha ra đi, mẹ của Mỹ Dung đã phải di chuyển gia đình nhiều lần, từ Vĩnh Long, Cần Thơ, lên Sài Gòn rồi về lại miệt vườn để tránh bị cơ quan an ninh để ý về tung tích. Nhưng trong nhiều trường hợp, gốc gác của gia đình đã gây ra khó khăn cho những người con.
     Ngoài Bắc, cha của Mỹ Dung đổi tên thành Đặng Quang Minh, làm việc trong ngành ngoại giao và năm 1968 làm đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tại Liên Xô. Người anh cả là Đặng Văn Khôi được đi Liên Xô học quân sự và trở thành chuyên viên tên lửa trong Quân đội Nhân dân. Trong Nam, một người chị của Mỹ Dung là Cương lập gia đình với một người lính Mỹ, qua Hoa Kỳ sinh sống. Người chị song sinh với Cương là Kim cũng qua Hoa Kỳ. Em trai Đặng Hải Vân gia nhập binh chủng không quân, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, là một phi công trực thăng xuất sắc, được gửi qua Mỹ tu nghiệp và bị tử thương trong một tai nạn khi đang thụ huấn. Đặng Quang Minh tin là cái chết của người con trai thứ do bàn tay của người Mỹ vì đã biết tung tích gia đình của ông. Mỹ Dung lớn lên, ra đời và làm việc trong các cơ quan tâm lý chiến quân đội miền Nam (G-5) ở Cần Thơ rồi lên Sài Gòn làm thư ký kế toán tại câu lạc bộ sĩ quan độc thân của quân đội Hoa Kỳ (Bachelor Officers’ Quarter). Duyên số đưa đẩy, Mỹ Dung gặp trung úy phi công của Hải quân Hoa Kỳ là John Krall. Hai người yêu nhau, Mỹ Dung được John đưa về Mỹ và chính thức kết hôn vào năm 1968 ở thành phố biển Monterey, California.
     Không mấy ai biết được cha của Mỹ Dung đã làm Đại sứ tại nước cộng sản đứng đầu thế giới. Cho đến khi biến cố 30-4 xảy ra. Được cha mật báo trước, Mỹ Dung muốn đưa mẹ và hai người em gái còn lại ra khỏi Việt Nam trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh nên đã cho giới chức Hoa Kỳ biết tung tích về cha mình, rồi trình bày thẳng với Đô đốc tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương về việc muốn di tản mẹ và hai em. Khi gặp sĩ quan tư lệnh phó, Mỹ Dung hứa nếu Hoa Kỳ giúp di tản gia đình thì bà sẽ làm mọi chuyện để cộng tác với chính phủ Hoa Kỳ sau này. Chồng của Mỹ Dung vào Việt Nam công tác trong những ngày cuối của cuộc chiến. Trung tuần tháng Tư 1975, mẹ và em của Mỹ Dung rời Việt Nam. Cũng trong thời gian này, vợ chồng họ Krall đã giúp di tản được nhiều trẻ em mồ côi ra khỏi Việt Nam.
     Làm gì để cộng tác với chính phủ Hoa Kỳ sau khi mẹ và gia đình đã rời Việt Nam? Đặng Mỹ Dung đã trở thành một điệp viên của CIA.
     Những gặp gỡ, tiếp xúc sau này với cha, Đại sứ Đặng Quang Minh, hay với những nhân viên của sứ quán Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc ở New York hay Paris, với những tổ chức “Việt kiều yêu nước” ở thủ đô Washington, San Francisco hay những hội “Liên hiệp Việt kiều” ở Pháp là nằm trong kế hoạch của CIA nhằm phá vỡ mạng lưới tình báo của Hà Nội trên đất Mỹ.
     Mỹ Dung đã xâm nhập vào nhiều tổ chức của Hà Nội, gặp gỡ nhiều cán bộ, từ Đinh Bá Thi, Đại sứ Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc; Đại sứ Võ Văn Sung, Phan Thanh Nam, Đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ở Paris; đến những người hoạt động ngoại vi cho Hà Nội như Trương Đình Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Thoa, Nguyễn Văn Lũy ở Mỹ; Huỳnh Trung Đồng, Nguyễn Ngọc Giao ở Pháp.
     Nhiều lần vào hang cọp, hồi hộp như truyện trinh thám của Z-28, của John le Carré, như phim James Bond 007, nhưng đó là những chuyến đột kích có thật mà Yung Krall đã ghi lại với nhiều tình tiết. Kết quả công tác của Mỹ Dung là phá vỡ được một mạng lưới hoạt động với mục đích thu thập tin tức của chính phủ Hoa Kỳ do Trương Đình Hùng (David Trương) và Ronald Humphrey, một nhân viên của cơ quan thông tin Hoa Kỳ (United States Information Agency) chủ mưu. Ra tòa, với Mỹ Dung là nhân chứng chính, hai bị cáo đã bị kết án mỗi người 15 năm tù.
     Tự truyện của Yung Krall cho người đọc hình dung ra quê hương Việt Nam trong thời chiến tranh là một bi kịch cho đất nước với biết bao mất mát, chết chóc vô lý vì những chủ nghĩa, lý tưởng xa vời do lãnh đạo áp đặt lên nhân dân. Còn dân, thực tế như nhiều người đã có kinh nghiệm, trong đó có gia đình tác giả, thì đã phải đối phó với nghịch cảnh là ban ngày theo “quốc gia”, tối yểm trợ “cách mạng”. Phần tác giả, ngày còn nhỏ và ở tuổi niên thiếu rất ưa thích mầu đỏ, nên có khi bị gọi là “Việt cộng”. Sau này với những kinh nghiệm trường đời, Yung Krall đã nhận ra những hành vi của cộng sản thường tàn ác và chủ thuyết cộng sản chỉ là những lời nói rỗng, lý thuyết suông.
     Sau khi chiến tranh chấm dứt, hai cha con được gặp lại nhau sau hơn 20 năm xa cách. Cuộc hội ngộ diễn ra vào tháng 8 năm 1975 tại thủ đô Tokyo khi Đại sứ Đặng Quang Minh đến Nhật Bản dự một hội nghị. Đây là một cuộc hội ngộ lý thú vì Mỹ Dung đang làm gián điệp cho CIA. Khi có mặt cán bộ khác, cha con chỉ dám giới thiệu là người cùng quê, xưng “bác” và “cháu” để tránh sự nghi ngờ, soi mói của cán bộ cộng sản hiện diện. Với thắng lợi thống nhất đất nước vừa đạt được, Đại sứ Đặng Quang Minh không hề có điều gì hối tiếc vì đã theo con đường của ông. Lần sau, gia đình gặp nhau bên Anh năm 1977, ông cũng không thay đổi lòng tin của mình vào con đường cách mạng ông đã theo. Cô con gái có ý định thuyết phục cha mình sau khi nghỉ hưu thì qua Mỹ đoàn tụ, sống với mẹ và các con, các cháu, hay ở bất cứ một nơi nào khác ngoài Việt Nam, nhưng ông một mực từ chối và nói rằng đất nước còn cần đến ông. Trong cuộc gặp gỡ ở Anh, CIA có kế hoạch bắt cóc Đại sứ Đặng Quang Minh nếu được cô con gái đồng ý. Nhưng điều này đã không xảy ra sau khi hai cha con tranh luận về lý tưởng. Mỹ Dung tôn trọng những suy nghĩ và không muốn làm cho cha mình đau khổ nên bỏ ý định bắt cóc. Đại sứ Đặng Quang Minh về nước, làm cố vấn của bộ ngoại giao, rồi qua đời ở Việt Nam năm 1986.
     Qua tự truyện của Yung Krall, người đọc thấy được những giằng co giữa tình phụ tử, ràng buộc gia đình, giữa những ý thức hệ mà người dân Việt đã bị nhồi nhét.
     Về cách tổ chức và hoạt động tình báo hải ngoại, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, A Thousand Tears Falling tiết lộ những phương án mà Hà Nội muốn “Việt kiều yêu nước” và những tổ chức thân Hà Nội thực hiện trong giai đoạn sau khi chiến tranh chấm dứt, đó là vận động Hoa Kỳ viện trợ hơn 3 tỉ đô-la cho Việt Nam vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh. Tổ trưởng gián điệp của Hà Nội ở Paris là Phan Thanh Nam còn đề nghị Yung Krall thúc đẩy chồng đánh cắp tài liệu của Hoa Kỳ về tầu ngầm và những dữ liệu thăm dò địa chất về dầu hỏa trên thềm lục địa Việt Nam.
     Vụ án gián điệp trong A Thousand Tears Falling đã ra tòa, kết thúc từ năm 1978 và những can phạm đến nay cũng đã hết thời gian thọ án. Nhưng thành phần “Việt kiều yêu nước” cũ thì dù nhà nước mời gọi, không mấy ai trở về đóng góp cho quê hương. David Trương Đình Hùng ra tù, chuyển qua Hà Lan sinh sống. Nguyễn Văn Lũy, qua Mỹ từ năm 1948, nay đã ngoài 80; Nguyễn Thị Ngọc Thoa qua Mỹ năm 1968, nay ngoài 50 tuổi; và những nhân sự cốt lõi của “Hội Việt kiều yêu nước” tại Mỹ ngày xưa nay vẫn còn ở vùng San Francisco. 
     Đinh Nam

     © 2006 talawas

[1] A Thousand Tears Falling: The true story of a Vietnamese family torn apart by war, communism and the CIA.
Tác giả: Yung Krall. NXB LongStreet Press, Atlanta. 1995



Việt Luận Phỏng vấn Chị Đặng Mỹ Dung, tác giả “Ngàn Giọt Lệ Rơi”
Lời toà soạn: Cuộc chiến Bắc Nam kéo dài hơn 20 năm đã làm cho hầu hết những gia đình VN đều phải chịu cảnh con xa cha, vợ xa chồng, gây ra những mất mát quá lớn về cả vật chất lẫn tinh thần và sau cuộc chiến chấm dứt vẫn còn để lại biết bao vết thương, thù hận, lòng người chia cắt... kéo dài đến hôm nay.
Gia đình chị Đặng Mỹ Dung là một trường hợp khá tiêu biểu của những gia đình ở miền nam VN. Sau 1954, cha chị tập kết ra Bắc, còn chị em chị cùng mẹ ở lại trong Nam được nuôi dưỡng trong môi trường biết quý trọng giá trị của tự do và hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa CS. Chị lập gia đình với một sĩ quan cao cấp người Mỹ và rời khỏi VN trước ngày mất nước. Sau 1975, cha chị là Đặng Quang Minh lúc đó là đại sứ của CSVN tại Moscow gặp lại gia đình lần đầu sau hơn 20 năm chia cắt tại Paris. CSVN nghĩ là có thể dùng lợi dụng chị qua tình cảm cha con để xây dựng một mạn lưới gián điệp tại Hoa Kỳ. Chị Đặng Mỹ Dung hành xử trong trong cương vị là một công dân Hoa Kỳ có trách nhiệm bảo vệ quê hương thứ hai. Chính chị đã giúp cơ quan tình báo Mỹ phá vỡ mạn lưới gián điệp của CSVN tại Mỹ.
Tất cả những chi tiết đó và cuộc đời của mình đều được chị kể lại trong cuốn tự truyện “Ngàn Giọt Lệ Rơi” sẽ xuất bản bằng tiếng Việt trong năm nay.
Nhân dịp chị Đặng Mỹ Dung qua Úc để thăm bạn bè và thăm lại những người từng là trẻ mồ côi trong Cô Nhi Viện Minh Trí tại Sàigòn trước đây và hiện đang sống tại Úc, Việt Luận có buổi tâm tình với chị hầu có thể giúp cho độc giả biết thêm về người phụ nữ bản lãnh này
.

Việt Luận (VL): Tuổi thơ ấu của chị trải qua gần 10 năm trong mật khu chống Pháp, chị có thể nói thêm về tuổi thơ của mình được không?

Chị Đặng Mỹ Dung (ĐMD):  Tôi sanh ra trong một gia đình đi làm cách mạng chống thực dân Pháp. Hai người anh và một người em trai của má tôi là bạn thân của ba tôi thuở còn đi học, gia đình bên nội các chú các bác đều là Việt Minh. Cuối năm 1939 đàn ông trong đại gia đình của chúng tôi bị Tây bắt đày ra Côn Đảo, đến năm 1945 cùng với muôn ngàn người tù khác ba tôi được trả tự do. Năm 1946 tôi ra đời tại tỉnh lỵ Cần Thơ nhưng chưa đầy một tuổi thì ba tôi dẫn vợ con vô vùng giải phóng.
Tôi rất thích khi VL hỏi đến tuổi thơ của tôi, bởi vì nó như một cuốn film trắng đen vẫn còn mới trong tâm khảm của tôi, nó vẫn còn linh động, vẫn còn âm thanh quen thuộc dù đã qua 50 năm rồi. Hình ảnh trong tuổi thơ của tôi là những năm tản cư, chạy giặc, bom đạn trên máy bay củaTây từ trên máy bay bắn xuống nhưng tôi nhớ hoài mỗi lần Tây bắn xong người trong làng xúm tìm nhau coi ai còn ai chết. Người sống tiếp tục đấu tranh không có ai bỏ cuộc. Được nuôi dưỡng trong cái nôi cách mạng, tiếng hát ru em là những chịi hùng ca nặng tình nhà, tình dân tộc. Gương sáng là những người yêu nước ở mọi từng lớp trong xã hội Việt Nam sánh vai nhau phục vụ cho một lý tưởng. Họ vào trong vùng giải phóng từ thành thị đến thôn quê, họ là những người dân chày, những anh nông dân, những thiếu nữ tóc còn xanh. Họ là những bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, thầy giáo. Có người du học bên Pháp vừa về tới Việt Nam là đi thẳng vô trong khu theo cách mạng, có người thoát ly gia đình bỏ lại mẹ già, cha bịnh mà đi theo cách mạng chống thực dân Pháp. Anh chị em chúng tôi là những người bạn tí hon của các anh các chị bộ đội và cán bộ, khi họ nhớ nhà, nhớ bữa cơm gia đình họ tìm đến với chúng tôi.
Tôi còn nhớ những buổi chiều vàng thật đẹp trên sông trước cửa nhà tôi, anh em tôi ngồi nghe má kể chuyện đời xưa, còn ba tôi thì chờ đêm tối không trăng kể chuyện ma.
Lúc tôi lên 9 tưổi, Việt Minh thắng trận, Tây về Tây. Đất nước thanh bình chỉ được một thời gian ngắn, nhưng hoà bình trong nhà tôi chỉ được có mấy tháng thôi vì ba tôi cho vợ con biết Hiệp Định Geneve đã ký, còn nhỏ quá tôi chỉ biết cái tên xa lạ đó nhưng không biết Geneve ở đâu, chỉ biết ở đó đã định đoạt cho cảnh phân ly của gia đình tôi. Ba tôi đi tập kết ra Bắc, má tôi và 6 chị em ở lại miền Nam.
Tôi may mắn được nuôi dưỡng trong cái nôi cách mạng để lớn lên tôi biết yêu nước, may mắn hơn nửa là được làm công dân ở miền Nam để tôi có tự do yêu nước với người dân. Nếu má tôi không can đảm nuôi con một mình thì chúng tôi sẽ thành những dụng cụ yêu nước cho CSVN rồi.
 VL:  Sau khi ba chị tập kết ra Bắc vào năm 1954 yếu tố nào đã nung đúc chị có một tinh thần chống cộng rõ ràng, chớ không giống như phần đông những gia đình có cha theo Cộng sản khác?
ĐMD: Má tôi làm vợ của một nhà cách mạng chống Pháp, dù chị không có gia nhập hội Phụ Nữ như những người vợ cách mạng khác nhưng má tôi sát cánh bên chồng, bên con cho nên má tôi hiểu khi Việt Minh ló đuôi Cộng Sản. Anh chị em chúng tôi lớn lên với thăng trầm của đất nước, qua tình yêu nước của ba tôi mà anh chị em chúng tôi biết yêu nước. Sau khi ba tôi đi tập kết chúng tôi tản cư về ở với ông ngoại chị ngoại, ông lại là người yêu nước thuần túy hơn, ông chống Cộng Sản, ông chống Hồ Chí Minh, nhưng ông yêu thương những người con, người rể của ông, nhờ ông ngoại cho tôi thấy phân biệt rõ ràng nầy mà tôi không đi lạc đường mà tôi vẫn không thấy mình tội lỗi khi tôi từ chối không nối gót ba tôi.
 VL:  Làm sao chị tạo được mối quan hệ với những nhân viên ngoại giao và gián điệp của CSVN sau năm 1975? Và chị có thể kể lại cho độc giả biết về vụ án Trương Đình Hùng có liên hệ trực tiếp đến chị?
ĐMD:  Tháng 5 năm 1975, ba tôi trở về miền Nam trong chiến thắng của Hà Nội nhưng cá nhân của ông là chiến bại vì vợ con sợ Cộng sản quá nên đã bỏ chạy qua Mỹ trước đó 2 tuần. Trời thương gia đình tôi cho nên đưa đẩy cho ba má tôi gặp nhau trên nước Pháp do ông Lê Duẩn bạn chí thân của ba tôi đứng sau lưng giúp đở. Trong bộ Ngoại Giao của Hà Nội lúc đó ai cũng biết là ông Lê Duẩn tin tưởng ba tôi lắm. Được biết trong lịch sử của đảng Cộng Sản ba tôi là đảng viên lần đầu được nhà nước cho phép gặp vợ con ở nước ngoài, cho nên khi tôi gặp ba tôi ở Paris thì nhũng cán bộ của hai toà đại sứ Hà Nội và MTGPMN đều đón tiếp con gái của ba tôi một cách nồng nhiệt. Phải thành thật mà nói có những đồng chí của ba tôi cũng ở cùng hoàn cảnh xa vợ xa con suốt thời kỳ chiến tranh cho nên họ hết lòng giúp cho cuộc hội ngộ nầy trọn vẹn cho ba má tôi và tôi. Nhưng khi tới Paris, gặp một vài ông cán bộ tình báo thì mới biết họ đã làm “home work” kỹ càng về tôi, biết chồng tôi là sĩ quan tình báo của Hải Quân Mỹ làm việc tại Ngũ Giác Đài, là phi công của Hải Quân, họ muốn làm thân với tôi vì con mồi lớn kia cùng một lúc Hà Nội bắt đầu củng cố lại nội bộ của Việt Kiều Yêu Nước. Bất đắc dĩ tôi nhận lời làm tai mắt cho ông chủ tịch của Việt Kiều Yêu Nước, trụ sở tại Paris. Trùm gián điệp Cộng Sản Việt Nam cũng cho tôi công tác để móc nối với gián điệp của họ ở Mỹ.
Mọi liên hệ giữa tôi và cán bộ Cộng Sản Việt Nam tại Paris, Mỹ và các nước khác đều được báo cáo vói CIA trong những chịi báo cáo tôi trình lên cho sở nầy.
Nói tóm lại, nhân viên Bộ Ngoại Giao và gián điệp của CSVN lợi dụng con của ba tôi chớ tôi không có rình nhà họ trước.
Vụ án của Trương Đình Hùng đã có nhiều báo chí, sách vở nói đến, trong A Thousand Tears Falling tôi cũng có ghi chép lại những chi tiết từ ngày đầu tôi được tình báo CSVN giới thiệu tôi với Trương Đình Hùng cho đến ngày ông ấy bị FBI bắt.
 VL: Xin lỗi cho hỏi một câu riêng tư: Sau khi giúp chính phủ Mỹ phá vỡ được mạn lưới gián điệp lớn CSVN tại Mỹ, thì mối liên hệ giữa chị và cha chị ra sao? Chị có bao giờ thuyết phục ba chị bỏ lý tưởng cộng sản?
ĐMD: Cộng sản chia đôi đất nước, làm cho con xa cha, vợ xa chồng chúng tôi không được lớn lên bên cạnh ba tôi, rồi khi ba tôi gìa yếu chúng tôi cũng không được chăm sóc ông, nhưng gia đình tôi được cái phước là dù xa nhau trên 20 năm nhưng chúng tôi thương yêu nhau, kính trọng nhau trong tinh thần của những người Việt Nam yêu nước. Một khi anh yêu nước thật sự, hành động và việc làm của anh nói lên tình yêu đó. Ba tôi biết tôi yêu nước, ba tôi biết tôi không chấp nhận sự có mặt của Cộng Sản tại miền nam Việt Nam. Chúng tôi vẫn yêu thương kính trọng nhau sau khi biết tôi giúp cơ quan tình báo Mỹ phá vỡ mạn lưới gián điệp của CSVN tại Mỹ.
Sau 30 tháng 4 năm 75 tôi được gặp ba tôi ba lần, lần nào tôi cũng nói khéo khuyên ba tôi hưu trí tìm một quốc gia nào khác ở dưỡng gìa với má tôi, dĩ nhiên không phải là tỵ nạn Cộng Sản ở nước Mỹ. Ba lần tôi mời ba tôi ở lại, ba lần tôi làm cho ba tôi thất vọng vô cùng vì ba tôi cho đó là một ý nghĩ vô cùng ích kỷ. Ông muốn tiếp tục phục vụ đất nước và dân tộc dù biết Đảng của ông đã phản bội ông rồi.
Tình cha con của chúng tôi không sứt mẻ, chỉ buồn cho gia đình tôi là ngày ba tôi qua đời CSVN không cho chúng tôi về dự đám tang. Gia đình bên ngoại “đánh dây thép” cho chúng tôi biết tin ba tôi qua đời.
 VL: Yếu tố nào đã thúc đẩy chị viết tác phẩm “Ngàn Giọt Lệ Rơi”?
ĐMD: Câu chuyện của những người đi tập kết đâu có giấy mực nào ghi chép hết. Phần tôi, tôi viết để thế hệ con cháu của tôi nó biết gia đình Việt Nam của nó, hy vọng như vậy. Tôi viết để ghi ơn ông chị cha mẹ anh chị em của tôi và những người đi qua trong đời tôi đã giúp cho tôi thành người.  Trăm ngàn gia đình có thân nhân đi tập kết cũng muốn kể lại khoảng đời nầy của họ, nhưng phần đông không viết được vì họ đang ở tại Việt Nam, có những người sống ở hải ngoại nhưng họ không dám ra mặt sợ thân nhân của họ bị phiền phức với nhà nước ở Việt Nam. Lần cuối cùng gặp ba tôi ở Luân Đôn, tôi có cho ba tôi biết là mấy chục năm qua tôi viết nhựt ký, ba tôi có vẻ ưu tư rồi khuyên tôi nên viết thành sách cho con cháu trong gia đình biết về tổ tiên ông chị của chúng nó.
 Tôi nhớ hoài câu nói ngắn ngủi nhưng thành thật vô cùng của một đảng viên Cộng Sản: “Con viết dùm cho ba, hoàn cảnh chưa cho phép những người như ba viết hồi ký, chỉ có chánh phủ mới được viết hồi ký thôi con à.”
 VL: Được biết chị đang dịch tác phẩm này sang tiếng Việt, xin chị cho biết khi nào thì hoàn thành?
ĐMD: Tôi cám ơn chồng con, bè bạn và VL đã hỏi thăm tới đứa con tinh thần của tôi. Cho phép tôi trả lời rất dài dòng để tất cả biết tại sao 10 năm sau khi bản Anh ngữ A Thousand Tears Falling xuất bản rồi mà tôi chưa hoàn thành bản Việt ngữ. VL là người thứ mấy chục hỏi tôi câu nầy, nhưng VL là người đầu tiên tôi trả lời rõ ràng. Vợ chồng tôi chỉ có một đứa con, nó lớn nhanh quá làm cho tôi luống cuống, viết lại quyển sách nầy bằng Việt ngữ cũng gần giống như nhìn con tôi trưởng thành, đủ lông đủ cánh nó bay đi. Nó là một đứa con tuyệt vời của vợ chồng tôi, khi nó trưởng thành nó có bổn phận với đời, với xã hội của nó. Cũng như con của tôi, cuốn sách nầy sẽ được vô nhà in, được đến tới tay của đọc giả xa gần, cho tôi bồng bế nó cho đến cuối năm nay.
 VL: Trong đời chị, chị đã làm được nhiều “chuyện lớn”, nhưng điều gì làm chị hãnh diện nhất và chị có điều gì hối tiếc không?
ĐMD:  Chuyện lớn nhứt là có con, thương con và được nó thương lại. Điều tôi mong ước thầm kính nhứt nhưng ít khi nào nhắc đến trước công chúng đó là được cùng với ba tôi viết một quyển sách. Thôi thì kiếp sau vậy.



Ra mắt sách Ngàn Giọt Lệ Rơ của Dang My Dung Youtube.mp4





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét