Ngày khốn nạn
Vũ Đông Hà (Danlambao) - Ba mươi tháng tư. Một buổi tối năm nào ngồi nhậu trước chung cư, lũ chúng tôi cùng nhau say với quá khứ. Tính sổ ra mới biết cuộc đời của mỗi thằng chẳng có gì đáng kể từ cái ngày năm ấy. Bạn tôi say mèm nốc gọn chai bia và đọc hai câu của một nhà thơ nào đó
: Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng, đụ mẹ đời đụ má tương lai. 37 năm sau, túm gọn cuộc đời của nhau bằng 2 câu thơ bạn tôi đọc, nhìn thực tại trần ai của đất nước để đo lường giá trị của mốc điểm lịch sử, tôi thấy cái tên gọi mà ôn tôi, một cu li không biết đọc không biết viết, đặt cho nó vào đêm cuối cùng tôi ngồi bên ôn là chính xác: 30 tháng 4 – ngày khốn nạn.
: Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng, đụ mẹ đời đụ má tương lai. 37 năm sau, túm gọn cuộc đời của nhau bằng 2 câu thơ bạn tôi đọc, nhìn thực tại trần ai của đất nước để đo lường giá trị của mốc điểm lịch sử, tôi thấy cái tên gọi mà ôn tôi, một cu li không biết đọc không biết viết, đặt cho nó vào đêm cuối cùng tôi ngồi bên ôn là chính xác: 30 tháng 4 – ngày khốn nạn.
*
Cuộc đời có nhiều khúc chia ly. Thâm Tâm "đưa người ta không đưa sang sông, sao có tiếng sóng ở trong lòng". Thanh Tâm Tuyền là "thằng điên khùng, ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới". Trịnh Công Sơn có "những hẹn hò từ nay khép lại, thân nhẹ nhàng như mây, chút nắng vàng giờ đây cũng vội, khép lại từng đêm vui".
Lãng mạn hay ngậm ngùi, giây phút giả từ vẫn là điều biết trước. Phần tôi, đã không có một phút chia tay, không một lời đưa tiễn, không một vòng tay. Trưa 2 giờ, "hẹn gặp nhau ngày mai ở lớp học" - cô bạn học trò có đôi mắt người Sơn Tây cười quay đi. Đó là lần cuối tôi nhìn thấy lưng bạn tôi. Đó là buổi sau cùng tôi có các bạn tôi. Đó là ngày chấm dứt thời thơ ấu. Trong một ngày, tôi mất vĩnh viễn một quãng đời đẹp nhất. Không biết trước. Không một lời chia tay. Không bao giờ gặp lại. Trong tôi, hình ảnh những đứa bạn đã dừng lại vĩnh viễn, sống và chết ở ngày ấy. Cho đến bây giờ.
Mười ba bạn vẫn mười ba
Dù đời nghiệt ngã dù ta đã già
Khói sương nhân ảnh có mờ
Bạn ta, ta giữ một ngày mười ba
Ngày đó là ngày 9 tháng 3 năm 1975. Hôm sau, Ban Mê Thuột thất thủ.
*
Buổi sáng, ôn nội, má tôi cùng đàn con 7 đứa di tản qua nhà chú Kim Liên. Nhà chị mái tôn vách gỗ, ở đây nguy hiểm; anh Hai lại không có nhà - Chú Kim Liên ân cần bảo. Tiếng đại pháo vẫn liên tục ầm ì vọng về từ chiều hôm qua trên thành phố hoang mang. Ba tôi không thấy về từ tiểu khu Mai Hắc Đế. Má tôi âu lo không biết nên đem theo những gì. Ôn tôi làu bàu nhà mình không ở, lại đi đâu. Tôi và lũ em vui mừng vì tự nhiên có một ngày nghỉ học. 1 giờ trưa, mọi toan tính, làu bàu, vui mừng đã chấm dứt khi những viên đạn AK xé nát khung cửa sắt phía trước và bên kia của con đường A Ma Trang Long ngập lửa. Chiến tranh thật sự gõ cửa vào nhà. Chú Kim Liên ngồi co rút dưới chân cầu thang, mặt không còn chút máu, mếu máo khóc. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy người lớn sợ hãi hơn tôi.
Chiều. Im lặng. Dãy nhà bên kia đường đã cháy rụi. Mọi người quyết định kéo nhau về chùa Khải Đoan. Ở chùa vẫn tốt hơn, ôn nói. Đi ngang đường Quang Trung, tôi nhìn thấy chiếc xe tăng áng trước chợ Đê. Hai người lính bộ đội mệt mỏi yên lặng đứng nhìn chúng tôi. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy những người phía bên kia. Họ bình thường không hung tợn như hình ảnh tôi có trong đầu qua những sách hình đã xem, những truyện đã đọc. Chú Kim Liên mặt mày lại tái mét, chân đi muốn khụy.
Tới ngã tư Nguyễn Tri Phương và Phan Bội Châu, má tôi thì thầm vào tai bảo tôi chạy về nhà lấy cái túi má dấu dưới bệ thờ. Không sao đâu ôn… xong con chạy liền tới chùa nghe con. Má tôi nói với ôn và dặn dò tôi. Trên đường về nhà tôi gặp anh Vi trốn lính hàng xóm. Anh đã gần 25, 26 mà khai sinh lúc nào cũng 16. Gần tới nhà thì anh bị chận lại. Mấy năm trốn cảnh sát Cộng hòa, hôm nay anh bị bộ đội cụ Hồ bắt. Anh Vi gỡ gạc chỉ vào tôi nói xạo – chỉ có hai anh em, bắt tui rồi nó sống với ai? Bắt luôn! Trên đường cùng đoàn người bị bắt đi về ngã cầu số 14, anh Vi thì thầm chết cha rồi Cu Em, điệu này giống Phước Long, anh em mình sẽ bị bắt đi lao công chiến trường. Cám ơn anh Vi. Mười ba tuổi, thằng Cu Em trở thành tù binh chiến tranh. Chẳng có dịp nào để trách anh vì 3 năm sau nghe tin anh Vi chết ở Buôn Hô vì bệnh lao.
*
Tháng ba, tôi đi qua những hàng cà phê đứng gió. Đôi chân với gai mắc cỡ đâm sâu từ đêm qua vẫn còn râm râm nhức. Tôi đi qua vùng kỷ niệm của những buổi trưa trốn học tiết đầu, rủ nhau đạp xe đạp vào những đồn điền cà phê bắt ve sầu, nằm ngửa mặt đón những tia nước đái giống như mưa phùn của hàng nghìn con ve mà chắc chỉ ở nơi này mới có.
Buổi chiều cả đoàn được dừng lại nghỉ qua đêm. Bác chủ đồn điền tốt bụng đem gạo và nồi nấu ra cho. Người con gái khoảng cùng tuổi cho tôi một cái mền xanh của quân đội Mỹ. Tôi ôm nồi xuống suối tắm và lấy nước nấu cơm. Vừa kịp vắt xong cái áo thì ầm ầm, tiếng bom như xé nát bên tai. F5 của không quân!. Tiếng người la ơi ới. Chiếc phản lực bay với tốc độ vượt âm thanh nên tiếng bom đến trước tiếng động theo sau. Tôi ôm nồi nước chạy vắt giò lên cổ. Bụi đỏ ngập bầu trời. Không kịp thở tôi về đến chỗ tập trung, nhìn lại nồi nước hình như không đổ một giọt. Sợ đến nỗi chạy trối sống trối chết mà vẫn vô thức giữ cho nồi nước còn nguyên. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là sợ đến té đái trước biên giới tử sinh. Tôi mất cái áo ở bờ suối. Tối hôm đó, nhớ má quá tôi quyết định trốn về.
*
Đi ngang qua nhà số 94 đường Lê Văn Duyệt nhìn vào tôi biết ôn, má và các em tôi không ở đó. Dì Vinh bán bánh căn đầu đường, má thằng Cứt bạn tôi, nói má con lúc ở chùa bả khóc quá chừng khi con bị mất tích. Cả nhà con bây giờ đang ở bên cậu Tương. Dì Vinh lấy một cái áo của thằng Cứt cho tôi mặc. Con ở trần về má con thấy bả còn khóc dữ. Về nhà cậu, má tôi ôm tôi bù lu bù loa. Ôm má, tôi nhìn ôn quẹt nước mắt. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn được giọt nước mắt của ôn. Còn tôi không hiểu sao tôi không có được một giọt nước mắt. Và ba tôi vẫn biệt tăm.
Ngày hôm sau tôi theo má và ôn đi tìm ba. Con đường dẫn đến trường Trung học Tổng hợp nồng mùi xác chết. Trời Ban Mê giữa trưa tháng ba đã hầm hập gió mùa. Ôn, má và tôi đi suốt từ suối Đốc Học, đến tiểu khu Mai Hắc Đế, về phi trường L19 và dọc theo đường Hùng Vương. Những xác người sình căng giữa ngọ. Những con đường chết với đàn ruồi vo vo bay lên đáp xuống. Mỗi xác chết là mỗi bước phân vân, lưỡng lự. Mỗi xác chết ôn tôi rón rén đến gần nhìn. Mỗi xác chết nằm sấp ôn tôi lật ngữa. Mỗi xác chết ôn tôi cười mếu máo – không phải thằng Hai!. Mỗi xác chết má tôi cười theo sau làn nước mắt. Lần đầu tiên trong đời, tôi cười trên những xác người.
Một tuần sau ba tôi trở về với chiếc quần xà lỏn và cái áo may ô đen đủi. Đó là hình ảnh cuối cùng của người lính VNCH trong tôi. Ba tôi ôm ôn tôi khóc trước khi ôm má tôi.
*
Tháng Tư trở về ngôi nhà hương hỏa
con chó già nằm ngủ thiên thu
Minô, Minô gốc ổi vàng yên giấc
chiếc võng buồn tênh
không người đưa…
Tôi trở về nhà. Bàn yên, ghế lặng, sách vở nằm im. Mười ba tuổi tôi đã cảm nhận được cuộc bể dâu. Hai anh em sinh đôi thằng Sinh thằng Sáng lớn hơn tôi 3 tuổi đi sùng sục khắp xóm với băng đỏ trên tay. Bác Khuê tài xế sát nhà làm tiệc mời hàng xóm tới nhậu oang oang để mọi người biết bác đang ăn mừng cách mạng về. Nhà thằng Khánh có ba nó làm lớn trong tòa tỉnh trưởng đóng cửa kín bưng. Ba tôi lính quèn nhưng nhờ nhậu giỏi nên quen biết lớn, sau một ngày đi mất tiêu, trở về nhà nói với má tôi chắc cả nhà ông tướng Cảnh, đại tá Quang đã đi rồi. Mình cũng phải đi thôi. Má tôi khóc lóc không biết nên đi hay ở, để lại mệ ngoại cho cậu Tương má không đành. Ngày hôm sau, tin đồn người di tản chết như rươi trên quốc lộ số 1 giải quyết mọi đắn đo của má. Còn tôi, tôi ra sau nhà, đào đất chôn Minô dưới gốc ổi.
*
Mỗi tối ngồi nghe đài ôn tôi lại mừng rỡ nói với cả nhà: Nha Trang mất. Pleiku mất. Đà Lạt mất… Mỗi địa danh thất thủ là mỗi gánh nhẹ được gỡ bỏ khỏi nỗi lo âu nặng nề của ôn. Ôn nói với má là ôn sợ nếu chỉ có Ban Mê Thuột bị mất giống như Phước Long mấy tháng trước đó thì đời thằng Hai sẽ tàn. Thôi thì mất hết là hết chiến tranh, thằng Hai, thằng Cu Em không phải bị bắt đi lao công chiến trường. Ôn tôi, một người làm cu li cho Tây, không biết đọc, biết viết chỉ nghĩ đơn giản như thế cho kết cục của một cuộc chiến 21 năm. Ngày 30 tháng 4 Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Ôn thở phào nhẹ nhõm. Lúc đó tôi đang ngồi viết lại những tờ khai lý lịch của ôn, ba và má. Mỗi lý lịch khoảng 10 trang. Mỗi người phải có ba bản sao. Tờ nào có một chữ sai phải viết lại cả trang.
Ngày 30 tháng 4, cả nước lo âu hay cả nước mừng rỡ tôi không biết. Tôi ngồi chửi thề vì phải viết tay gần 100 trang bản khai lý lịch gia đình.
*
Sau ngày giải phóng, má tôi đóng cửa tiệm buôn bán, chia tay đời sống tiểu tư sản và mua lại từ người bạn một đồn điền cà phê nhỏ để góp phần xây dựng đất nước. Má tôi dặn các em tôi ai hỏi phải nói như vậy. Được một năm má gần hết vốn. Cà phê thu hoạch được phải bán cho nhà nước với giá bèo nhưng phân bón phải mua giá chợ đen. Má tôi biểu chặt bớt cà phê để trồng khoai lang và khoai mì. Hì hục chặt được đâu mấy trăm cây thì cán bộ gọi lên phường bắt đóng tiền phạt. Cà phê là tài sản của nhân dân không được phá hoại. Không đủ tiền chăm sóc thì cà phê chết và lại bị phạt, má làm đơn xin dâng đồn điền cho nhà nước. Nhà nước không nhận vì đó là tài sản của nhân dân.
Một đêm tối, má lặng lẽ dắt các em tôi trốn về Sài Gòn. Ôn về Đà Lạt ở với cô tôi. Ba tôi đi cải tạo vẫn mù tăm. Còn tôi ở lại, lang thang bụi đời và đi buôn lậu cà phê tuyến đường Sài Gòn – Ban Mê Thuột.
Lần ghé Ấp Ánh Sáng ở Đà Lạt thăm ôn, ôn hỏi bây giờ con làm gì? Dạ con đi buôn cà phê. Ôn nhìn tôi buồn rầu không nói. Đêm tôi chào ôn trước khi về lại Ban Mê, ôn ngồi hút thuốc cẩm lệ và kể cho tôi nghe cuộc đời làm đầy tớ, cu li, thất học của ôn. Kể chuyện đời ôn, nhìn đứa cháu đích tôn buôn lậu bụi đời, ôn nói ngày 30 tháng 4 ôn vui mừng vì chỉ biết lo cho ba con và con, bây giờ ôn mới thấy đó là một ngày khốn nạn. Trước khi tôi đi ôn giúi vào tay tôi chiếc nhẫn vàng hai chỉ và ôn khóc.
Đó là lần cuối tôi gặp ôn. Hai năm sau, ôn mất. Tôi không về nhìn ôn lần cuối và thắp được nén nhang trước mộ của ôn. Lúc đó, tôi đang bắt chước anh Vi chui nhủi ở Gò Công để trốn nghĩa vụ quân sự. Ngày ôn chết tôi không hay.
*
Năm tháng trôi. Người lính VNCH quần xà lỏn áo may ô lần cuối tôi nhìn bây giờ lụ khụ ở nhà giữ cháu cho con. Anh bộ đội cụ Hồ ở chợ Đê ngày ấy bây giờ còn hay mất? Cũng đang lủi thủi giữ cháu như tên lính ngụy cùng thời? Đã qua rồi những nòng súng chĩa vào nhau. Đã mất hút theo thời gian những ngày khói lửa Trường Sơn, Đại lộ Kinh hoàng và Mùa hè Đỏ lửa. Nhưng vẫn còn đó một cuộc chiến tàn khốc giữa độc tài và những kẻ bị trị. Tử vong, tự hủy hoại và mất mát của 37 năm thời bình đã vượt xa nhiều lần so với 21 năm chinh chiến. Đất nước này vẫn triền miên trong một cuộc chiến không bom đạn.
37 năm trôi qua. Những đứa bé ngày xưa bây giờ đã gần nửa đời người. Con đường gian nan tưởng đã chấm dứt từ 37 năm trước, từ thời đại của thế hệ đàn anh, nay vẫn còn tiếp diễn và kéo dài qua thế hệ đàn em.
Ba mươi tháng tư. Một buổi tối năm nào ngồi nhậu trước chung cư, lũ chúng tôi cùng nhau say với quá khứ. Tính sổ ra mới biết cuộc đời của mỗi thằng chẳng có gì đáng kể từ cái ngày năm ấy. Bạn tôi say mèm nốc gọn chai bia và đọc hai câu của một nhà thơ nào đó:
Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng
đụ mẹ đời đụ má tương lai.
Ba mươi tháng tư. Một ngày với nhiều tên gọi. Đại thắng mùa xuân, ngày giải phóng, ngày thống nhất, ngày quốc hận, tháng tư đen… Cuộc chiến không bom đạn lại được thêm giáo thêm gươm bởi những danh xưng định vị tư tưởng và lằn ranh ta-địch. Có nghĩa lý gì về tên gọi cho một ngày của quá khứ 37 năm. Tên của nó chỉ chính xác bằng bóng hình qua tấm gương soi của thực tế hiện tại.
37 năm sau, túm gọn cuộc đời của nhau bằng 2 câu thơ bạn tôi đọc, nhìn thực tại trần ai của đất nước để đo lường giá trị của mốc điểm lịch sử, tôi thấy cái tên gọi mà ôn tôi, một cu li không biết đọc không biết viết, đặt cho nó vào đêm cuối cùng tôi ngồi bên ôn là chính xác: 30 tháng 4 – ngày khốn nạn.


Chính xác hơn nửa là ngày Đại (Khốn) Nạn cho dân tộc VN...và cũng là ngày báo hiệu TQ sẽ đặt chân lên Nóc Nhà Việt Nam ( Tây Nguyên) ngày hôm nay.
Tháng Tư về
Mà em còn nhớ ?
Cờ đỏ dép râu tai bèo nón cối
Ùa vào Nam cơn dịch họa tai ương
Từ Miền Bắc, cả nước chìm thê lương ác mộng
Tháng Tư về
Mà Em còn nhớ ?
Người Đất Nam như đàn chim vở tổ
Tứ phương trời bão bùng giông tố
Biển Đông quỷ dữ nước độc rừng thiêng
Tháng Tư về
Mà em còn nhớ ?
Mặt trời buồn cám cảnh tang thương
Phố thị im lìm người qua đường gục mặt
Nơi làng quê tiếng sáo bặt tăm
Tháng Tư về
Mà Em còn nhớ ?
Ai dắt Em về thời hoang dại xa xăm
Sách Em học Chữ Người bằng Khỉ
Thầy cô Em hóa mặt bủng da chì
Tháng Tư về
Mà Em còn nhớ ?
Mái nhà Em ai cướp đoạt trên tay
Đuổi Em lên rừng dạy Em bài củ sắn
Đêm mắt phờ đớ đẩn ngẩn ngơ hồn
Tháng Tư về
Mà Em còn nhớ ?
Đạo Phật Trời ai báng bổ vùi chôn
Nơi linh thiêng loài chồn cáo huênh hoang chểm chệ
Đất trời Nam quằn quại sảng mê
Tháng Tư về
Còn bao điều Em nhớ ?
Mấy chục năm ôn dịch hoành hành
Nát bấy giang sơn Tổ Tiên gầy dựng
Tháng Tư về,
Ký ức tràn như con nước vở đê
Biển tang thương gào uất hận trăm bề
Lệ rưng rưng xót thương hồn Đông biển .
Chương Khuê
Chúng ta bị mất mát đau khổ,nhưng đổi lại hơn hai mươi triệu anh em chúng ta được làm người.
Nếu cần sao có hàng triệu người bỏ nước ra đi? Trước năm 1975 đời sống người dân miền Nam cao hơn hẳn đời sống người dân miền Bắc,vậy nói rằng giải phóng miền Bắc thì đúng hơn.
Nếu như không có NGÀY KHỐN NẠN đó, miền Bắc giờ này chắng khác gì Bắc hàn bây giờ....
Nào chúng nói rằng, cuộc đời mổ toàn đi lượm mà chẳng gieo, năm xưa, thực dân bỏ mổ lượm, sau, mỹ ngụy bỏ, mổ lượm. Nếu mổ chẳng gieo sao mất ba triệu giống, vài ngàn da cam, nếu mổ không cải ruộng đất, e nay thổ điền trong tay ác bá, mà đâu ít, trăm mấy ngàn.
Nay chúng chửi mổ rước voi dày mả, xem coi mả nào voi dày, hay chúng cứ chực xóa dấu ba đình, rồi các ố từ, nộ từ dành cho mổ. Xưa, cải điền thuộc hạ sai, mổ đà nhận lỗi, biết mổ mất bao nước mắt ?. Nay giải cứu chúng dân tháng tư, lẽ thường phải tri ân, tri hiếu, tri công, mổ chẳng cần đám thuộc hạ bưng điếu đội đầu, mổ muốn dân nam thổ nghĩ cạn lòng mà cho mổ lời ngợi khen, nhưng chúng mãi cứng đầu, mổ muốn giải, chúng nói phỏng, rồi chúng đòi lộng, đứa ngược ngạo với mổ là đồ chính mi.
Mổ nay ở tuyền đài cùng các chư huynh mác lê mao, đâu có chúng dân các xứ đó rủa xả các chư huynh như rủa mổ, vô sản của mổ ở cõi dưới này vẫn hữu dụng, có ai phải gởi xuống cho mổ nhà xe nữ hình nhân bao giờ, duy chỉ gởi vọng xuống tiếng chính mi, trả lại ba đình cho lịch sử, khi còn sinh tiền, mổ đâu có lượm nơi đó. Mổ muốn gọi là hào hùng tháng tư, đừng gọi mổ là mổ cá tháng tư.
Saigon một thời để Thương và Nhớ và ngày hôm nay đã trỏ thành Vũng Lấy ĐNÁ:
Seoul xưa vs. SàiGòn xưa; Seoul nay vs. SàiGòn nay
Một câu hỏi rất thông minh!!!
Các hảng dược phẩm Bayer, Trang Hai, Nguyễn Cao Thăng...sản xuất gần đủ các loại thuốc dùng cho trên 17 triệu dân miền Nam. Chỉ quanh Sài gòn có trên 20 công ty dệt vải vào hàng quốc tế. Các cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng rãi rác khắp nơi. Tư nhân sản xuất hàng thủ công nghệ phẩm chất cao, đồ gốm, đồ sứ Lái Thiêu, Binh Dương, Thủ Đức, Biên Hòa như hoa nở rộ. Ngoài ra còn có nhà máy xi măng Hà Tiên...
Cộng sản Bắc Việt của Hồ Chí Minh vào, tất cả những gì đang có của miền Nam tang hoang, đủ loại máy móc bị tháo gỡ từng mảnh bán chợ trời! Cả một nền kinh tế vững vàng bổng dưng tê liệt và biến mất dưới tài ba của tên Lê Duẫn và đồng bọn khốn nạn!
Những con dả nhân của chế độ cộng sản miền Bắc sau mấy mươi năm đày đọa đồng bào miền Bắc giờ đây do sự bế tắc tình hình chính trị thế giới đã nhân cơ hội tràn vào tiến chiếm đày đọa người miền Nam tiếp theo.
Bọn Lê Duẫn, Lê Đức Thọ hoàn toàn dốt đặc về kinh tế, tính toán... đã chẳng thế nào hiểu được giá trị của máy móc, kỹ thuật, cấu trúc kinh tế, giá trị của khả năng sản xuất tác động đến đời sống con người ra sao... ấy thế mà bọn này lại đi làm cách mạng, với ý tưởng đội đá vá trời là hoán chuyển kinh tế tư bản bóc lột thành kinh tế Các Mác ăn khoai mì, uống nước luộc mờ người mà chẳng có chút calori, energy nào!
Nếu một loạt những tên Lê Duẫn, Trường Chinh, Lê Dức Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Võ Nguyên Giáp đừng quá ngu dốt, cố gắng duy trì khả năng kỹ thuật, các mối liên hệ kinh tế của miền Nam sẵn có với thế giới, dùng đấy như một điểm tựa để kéo kinh tế miền Bắc đi lên, thì đồng bào miền Bắc không quá đói khổ cho đến mãi bây giờ, ba mươi bảy năm sau khi chiến tranh chấm dứt!
Nếu được như thế thì Sài Gòn, và các thành phố, đô thị lớn miền Nam đã không trở thành cảnh những thành phố chết, vắng lặng bóng người như thủ đô Nam Vang của Campuchea trong thời kỳ Khmer Đỏ!
Sau 30 tháng tư, Sài Gòn 1 triệu 1 trăm ngàn dân và các thành phố lớn miền Nam thực sự trở thành những thành phố chết! Người dân miền Nam bị đuổi lên rừng và đã bỏ thây nơi các vùng gọi là kinh tế mới với những nghĩa trang mọc lên mỗi năm càng nhiều!
Nếu không có những cảnh này thì miền Nam đã không có thêm hàng triệu người dân nữa đã vùi thân nơi đáy nước Biển Đông trên đường chạy nạn cộng sản!
Trên đây là tóm tắt công trạng của những tên cộng sản rừng rú đệ tử ruột của tên Hồ Chí Minh. Cho nên bây giờ những tên còn sống sót đã dự phần, vấy máu đồng bào miền Nam, đã dự phần chia từ số vàng 17 tấn của Tổng Nha Ngân Khố Quốc Gia miền Nam như Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, hay hàng con cháu của bọn này như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng...những tên nào càng to họng, to mồm hô hào, kêu gào cộng sản bao nhiêu thì số phận của chúng đối với nhân dân hai miền Nam, Bắc càng thê thảm bấy nhiêu!
Giờ sám hối của chúng đang đến! Hãy chuẩn bị mà đền tội trước nhân dân miền Bắc, Miền Trung, miền Nam và đền các tội kể từ Cải Cách Ruộng Đất cho đến các tội bắn giết người vượt biên trước mặt vợ con của nạn nhân và mới đây nhất là sát hại dân chúng, tù đày, hãm hại người yêu nước chống bọn Trung cộng xâm lược bắn giết ngư dân, bắn giết thanh niên VN trong màu áo bộ đội!
Cho hay lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng một con muổi cũng khó lọt lưới Trời!
Và bây giờ sau 37 năm, những nòng súng chĩa vào một mục tiêu... cộng sản. Những kẻ điên cuồng đã làm dân Việt khốn nạn kể từ 30 tháng 4 năm 1975!
Súng không chĩa vào chúng, sẽ suốt đời con cháu khốn nạn!
Mày bảo tao quên đi sao?
Nhớ lại làm chi, chuyện cũ từ năm nào
Nhà đã cháy, sao bới tro lên mà khóc?
Sao không coi chuyện đời bể dâu thoáng chốc?
Một chút phù du, sinh tử, dập vùi
Ba mươi mấy năm rồi, sao mãi ngậm ngùi?
Cứ Tháng Tư lại cờ quạt, chọc cười thiên hạ?
***
Mày nói đúng,
Nếu tao là người lạ
Không sinh ra và trưởng thành trong chiến tranh
Không nhìn thấy Cộng quân tàn sát dân lành
Từ thuở bé đã thấy đầu lâu cắm cọc
Đã chứng kiến Việt Minh tay dao, tay cuốc
Bổ sọ người như giết chó, giết heo
Đã biết Lý Bá Sơ heo hút lưng đèo
Chỗ táng địa của vạn người lương thiện
Những đấu tố mà quỷ vương hiện diện
Gào thét vang trời "Giết giết mãi, không tha!" (*)
Dưới chế độ Việt Minh, người ở lẫn với ma
Không dám thở, lạy ông bí thư, lạy bà cán bộ
Sinh phúc cho con, cả nhà con một hộ
Nguyện cắn rơm, cắn cỏ hầu hạ ông, bà
Những tiếng khóc sụt xùi, không dám vang xa
Nhưng gom lại, thì vỡ òa như thác...
***
Mày không nhớ sao?
Khi Cộng quân coi mạng người như rác
Pháo kích triền miên vào toàn chỗ dân cư
Đắp mô, đặt mìn, hành hạ dân quê
Treo cổ, cắt gân, chặt đầu, bêu chợ
Rồi Mậu Thân, hiện nguyên hình quỷ dữ
Chôn sống cả ngàn người, thầy giáo, sinh viên
Bác sĩ, thương gia, tu sĩ, thanh niên
Dồn xuống hố, tay còn còng dây kẽm
Những con mắt mở trừng, máu nhòa đen nhẻm
Những bộ ngực thanh xuân vỡ nát trong đêm
Những bàn tay chới với giơ lên
Tếng gào thét lùng bùng không khí
Mẹ ngất người, quằn đi, máu lệ
Bà vợ nằm, bụng chửa, tan hoang
Lũ con thơ hốt hoảng, ngỡ ngàng
Sẽ chết lịm trong mịt mù, tăm tối
***
Mày đã quên hết sao?
Trong tháng Tư Đen, đại bác Cộng Quân dội xối
Trên Đại Lộ Kinh Hoàng, hàng lũ dân oan
Mẹ bồng con, cha ôm mẹ, tay bị, vai mang
Chạy trốn Cộng quân, không ngờ truy sát
Bọn vô lương tâm ra tay tàn ác
Đạn bắn mịt trời, thân ngã như xung
Vú mẹ rời con, máu sữa hòa loang
Cha gục xuống, con bò ngang mặt lộ
Người chạy như điên, dầy nhau vô số
Chân gẫy, đầu rơi, bụng xổ, hồn thăng...
***
Những người như mày,
Có nhớ chút nào chăng?
Từ ngày lính cụ Hồ tràn vô thành phố
Cả đất nước đắm chìm trong nỗi khổ
Được củ khoai ngon mà như thấy ông Trời
Được miếng vải mới nhớ mình là người
Dăm ký gạo tưởng như vừa trúng số
Rừng sâu, nước độc, chúng lùa dân thành phố
Biến loài người thành lũ khỉ nhăn răng
Miệng méo, chân cong, chỉ đôi mắt mở căng
Nhìn xã hội cuồng điên mà hận ghét
Người chung quanh đều là kẻ thù ta hết
Vì chỉ rình mò, tố cáo, lập công
Cho Bí Thư, Chủ Tịch ngồi hưởng không
Giơ tay năm ngón là ở tù mút chỉ
Tài sản nhân dân, tập trung vào thành ủy
Đổi tiền, cướp chợ, cũng vào túi tham quan
Những hành vi côn đồ, của phong kiến, thực dân
Chúng áp đặt với lòng lang, dạ thú...
***
Ôi! Cuối thế kỷ 20 mà Việt Nam ủ rũ
Bỗng chốc thành thời đồ đá rong rêu
Nếu không có tình thương của những Việt kiều
Đất nước chắc biến thành giang sơn của khỉ
Vậy mà mày quên,
Còn trách chúng tao ủy mị
Cứ nhìn lá cờ mà khóc khôn nguôi
Mày còn nhớ không?
Bao bạn bè đã chết khơi khơi
Cho lá cờ đó vùng bay phấp phới
Bao tuổi trẻ, hồn thanh xuân vời vợi
Đã tử vong, cho đất nước tồn sinh
Cho mày, tao được cuộc sống yên bình
Cho lũ nhỏ được học hành, tiến tới
Mày bảo tao quên đi ư?
Làm sao tao quên nổi
Chỉ trừ đục óc tao, và móc mắt đi
Cho tao không nhìn, không nghĩ, không suy
Không nhớ về đất nước bốn ngàn năm ngào nghẹn
Ngày 30 tháng Tư cũng chỉ là điểm hẹn
Của lịch sử ta, dù ngày tháng căm hờn
Khi nào môn Sử bỏ đi, không còn uống nước nhớ nguồn
Không ai nhắc, lúc đó, không còn tháng Tư nữa.
Còn bây giờ, tuy không tràn khói lửa
Nhưng bạo quyền vẫn cai trị dân đen
Mỗi Tháng Tư, tao vẫn nhớ không quên
Những dấu mốc oán hờn cần gột rửa
Mỗi Tháng Tư, tim tao lại như ung vữa
Mắt lại nhòa, môi cắn chặt, tay rung
Ôi! Quê huơng ơi! Yêu dấu vô cùng
Thôi, tao lại khóc,
Biết bao giờ gặp lại...
Còn những người như mày,
Mong vài giây khắc khoải...
(Chu Tất Tiến)
Thật khó mà cầm được nước mắt, trước những vần thơ xé nát cõi lòng này…
“Người ta thật sự trưởng thành từ nước mắt, khổ đau hơn là từ hanh thông và an bình…” - Một Học Giả Mỹ