13 tháng 1, 2012

Hồ Chí Minh – Ông là Ai ? (bài 1)


Hồ Chí Minh – Ông là Ai ? (bài 1)

Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc – Nguyễn Sinh Cung : ba không thể là một

Trước hết xin nói rõ, ngày 19 tháng 5 không phải là sinh nhật của Hồ Chí Minh. Vì “sứ mệnh đặc biệt” ông ta không để lộ ngày sinh và nơi sinh chính thức nên lấy ngày tuyên bố thành lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh tức Việt Minh tại hang Cốc Lếu, bản Pắc Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (19/5/1941) làm sinh nhật.

Xin thưa: Việt Nam Độc Lập Đồng Minh là của Hồ Học Lãm thành lập ở Nam Kinh (Trung Quốc), năm 1936. Hồ Chí Minh giành làm của mình gây dựng vị thế “cha già dân tộc” đồng thời xóa Mặt trận Phản Đế Đông Dương đã có từ trước và để tạo huyền thoại lòe bịp nhóm Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Bùi San… lần đầu tiên được lên Cốc Lếu gặp ông ta.

* Điều này đặt ra mấy giả thiết như sau:

- Thứ nhất Hồ Chí Minh là Hồ Học Lãm, hậu duệ của Thái thú Hồ Hưng Dật do Tàu “bồi dưỡng, vun vén” đưa trở về.

- Thứ hai Hồ Chí Minh là một người Tàu thừa kế sứ mệnh Hồ Học Lãm, mạo nhận là Nguyễn Ái Quốc để dắt mũi dân ta.

- Thứ ba Hồ Chí Minh là Liêu Trọng Khải, Hội trưởng “Hội Liên hiệp Các Dân tộc Bị Áp bức ở Á Đông” do Tàu lập vào tháng 7 năm 1925.

*

Năm 1925, với bút danh Nguyễn Ái Quốc, ai đó đã có bài viết ca ngợi Phan Bội Châu là thiên sứ, là anh hùng dân tộc. Năm 1948, T.Lan (tức Hồ Chí Minh) viết trong sách Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện lại lên án Phan Bội Châu dựa vào Nhật đánh Pháp là “đuổi hỗ cửa trước rước beo cửa sau”. Nếu hai là một thì không thể “tiền hậu bất nhất” như thế. Vậy Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc.

• Nói về Nguyễn Sinh Cung ( Nguyễn Tất Thành)

Lý Thụy tức Nguyễn Sinh Cung xuất hiện tại Quảng Châu (Trung Quốc) cuối năm 1924 chỉ là người giúp việc vặt cho Bô rô đin (người Nga) bên cạnh chính phủ Tôn Trung Sơn, thi thoảng có xưng với một vài người Việt đồng hương đang làm ăn ở Quảng Châu là Vương, chưa tự xưng là Nguyễn Ái Quốc. Vả lại, sau tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái (19/6/1924), người Việt ở Quảng Châu rất sợ mật thám Pháp và sợ cả những người Việt đã từng làm công cho Pháp nên tránh tiếp xúc với Lý Thụy.

Đã đến lúc mỗi một người Việt Nam phải biết rõ lai lịch Nguyễn Sinh Cung. Bởi biết rõ Nguyễn Sinh Cung sẽ nhận ra Hồ Chí Minh chân hay ngụy một cách dễ dàng.

Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba của Nguyễn Sinh Sắc với Hoàng Thị Loan. Nguyễn Sinh Sắc trên danh nghĩa là con thứ hai của Nguyễn Sinh Nhậm và Hà Thị Hy (vợ lẻ). Hà Thị Hy vì có tài ca hát và múa đèn nên người làng Hoàng Trù gọi là O Đèn. Thời đó người ta coi O là “xướng ca vô loài” không ai muốn lấy làm vợ, thành ra quá xổi. Thế rồi, vì nhà họ Hà nuôi Cử nhân Hồ Sĩ Tạo làm gia sư nên “lửa gần rơm đã bén” O Đèn “dính” đành chịu phận làm lẻ Nguyễn Sinh Nhậm. Nguyễn Sinh Nhậm góa vợ từ lâu đang “khát”có ngay người con trai thứ hai với vợ kế Hà Thị Hy đặt tên con là Nguyễn Sinh Sắc cho xứng với tài của mẹ. Nhưng nhận ra đã trót, ông Nhậm rất buồn, thụ bệnh rồi chết.

Vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết (Trợ) là con trai trưởng của Nguyễn Sinh Nhậm (con vợ cả) biết Nguyễn Sinh Sắc không phải nòi giống Nguyễn Sinh Nhậm nên không làm bổn phận “quyền huynh thế phụ”, đã đuổi mẹ con Hà Thị Hy, Nguyễn Sinh Sắc ra khỏi nhà Nguyễn Sinh. Hà Thị Hy buồn, nhục và đói khổ chết. Nguyễn Sinh Sắc ba tuổi mồ côi cả cha lẩn mẹ, được ông Tú Hoàng Xuân Đường đón về làm con nuôi.

Nguyễn Sinh Sắc lên tuổi 17 đã làm cho em nuôi mình là Hoàng Thị Loan (con gái đầu lòng của ông bà Hoàng Xuân Đường) có chửa lúc 14 tuổi. Bà Nguyễn Thị Bạch Liên tức O Thanh ra đời tại nhà ông bà Hoàng Xuân Đường. Đã trót là phải trét. Nguyễn Sinh Sắc còn tiếp tục cho cha mẹ nuôi thêm Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Sinh Nhuận.

Sau ngày Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng (khoa thi năm 1901), tại Huế thì Nguyễn Sinh Khiêm mang tên mới là Nguyễn Tất Đạt. Nguyễn Sinh Cung mang tên mới là Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Sinh Nhuận mang tên mới là Nguyễn Tất Danh. Nguyễn Tất Danh ra đời trong lúc bà Loan mới vào Huế lại đau yếu đói khổ nên khắt sữa. Chị Thanh và hai anh Khiêm, Cung bồng em đi hàng xóm xin bú sữa dư nên có thêm tên là Nguyễn Sinh Xin. Năm 1901, bà Hoàng Thị Loan mới 33 tuổi bị bệnh chết và Nguyễn Sinh Xin cũng chết non.

Ba chị em Liên, Khiêm, Cung, bơ vơ dắt díu nhau về quê ngoại Hoàng Trù ở với dì Hoàng Thị An. Đây là thời gian anh em Khiêm, Cung được gọi là Khơm, Công. Khơm Công nói lái là không cơm. Có nghĩa là nghèo đói.

Như vậy là từ khi ra đời 1892 đến năm 1905, Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành hai lần vào Huế hai lần ra quê học hành chưa được mấy chữ và chưa hề ở nhà tại làng Kim Liên. Vả lại nhà đó không phải của dòng họ Nguyễn Sinh mà là của làng làm trên đất công để có chỗ cho Nguyễn Sinh Sắc vinh quy theo lệ làng. Tại sao họ Nguyễn Sinh không mặn mà với vinh quang mà vị Phó bảng mang về? Năm 1905 ông Nguyễn Sinh Sắc có việc làm đưa Nguyễn Tất Thành vào Huế học trường Tiểu học Đông Ba. Năm 1908, Nguyễn Tất Thành vừa bước chân vào trường Quốc học thì bỏ đi xem biểu tình chống thuế Trung Kỳ nên bị đuổi.

Như vậy là từ năm 1908 đến năm 1918, Nguyễn Sinh Cung không hề học tiếp, nên trình độ tiểu học đã bị mai một sau 8 năm bếp núc dưới hầm tàu. Có chăng về vốn ngôn ngữ giao tiếp thêm một số tiếng bồi thuộc ngành củi lửa, bốc vác. Từ lẽ đó, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Sinh Cung) không thể là tác giả Thỉnh nguyện thư gửi Hòa hội Véc Xây năm 1919 và đương nhiên không phải là Nguyễn Ái Quốc.

Bởi đứng tên bản Thỉnh nguyện thư lúc đó là “Patriote Nguyên”.

• Nói về Thỉnh nguyện thư 1919 và nguồn góc của ‘’Nguyễn Ái Quốc’’

Do một nhóm người Việt Nam yêu nước, đồng tác giả “Thỉnh nguyện thư” gồm: Luật sư Phan Văn Trường, Phó bảng Phan Chu Trinh, Kỷ sư Nguyễn Thế Truyền, Luật sư Nguyễn An Ninh…vì đang có mặt trên đất Pháp nên không tiện đứng tên thật do đó họ cùng đứng tên là ‘’ Patriote Nguyên’’( người ái –quốc họ Nguyễn ).

Trình độ tiểu học của Nguyễn Sinh Cung ,một phụ bếp không thể là tác giả .

Năm 1920 Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh) là Trần Đình Bá đã khẳng định bằng văn bản rằng Nguyễn Ái Quốc là tên chung của một nhóm không phải là một người Nghệ.

*Câu hỏi : Nguyễn Sinh Cung ( Nguyễn Tất Thành ) có phải là Hồ Chí Minh không?

Ai cũng biết rằng 10 năm đầu đời Nguyễn Sinh Cung hai lần vào Huế, ra Nghệ học chữ Hán chưa qua “Tam thiên tự”. 10 năm tiếp theo học quốc ngữ bậc tiểu học, rồi học tiếng bồi dưới tàu hàng. Chấm hết! Từ đó về sau phiêu bạt kỳ hồ, không qua trường lớp nào nữa.

Làm thơ chữ Hán với “Ngục Trung Nhật ký” và một hai lần nỗi hứng viết thư pháp điêu luyện, bay bướm càng gợi nên cho những người sáng suốt quan tâm thêm và tự đặt cho mình nghi vấn: Hồ Chí Minh là a i? Bởi ngoại trừ thần đồng của người trời, từ trên trời rớt xuống. Còn người trần thì không ai thoát khỏi lẽ đời : “Nhân bất học bất tri lý. Ấu bất học lão hà vi”.

Thật khó mà tin được Nguyễn Sinh Cung – là Nguyễn Ái Quốc- là Hồ Chí Minh.

Một điều tưởng cũng dễ hiểu là tại sao Hồ Chí Minh lại tránh gặp mặt chị, khi bà Thanh xách một bu gà từ Nghệ An ra, phải xách trở về xứ Nghệ (tháng 11 năm 1945). Tại sao Hồ Chí Minh lại tiếp ông Cả Khiêm vào ban đêm trong một căn nhà hẹp thiếu sáng ở phố Hàng Ngang mà không là nhà khách ban ngày ban mặt. “Lập lờ đánh lận con đen” chăng?

Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc – Nguyễn Sinh Cung không thể là một.

* Vậy ai là người đóng vai Hồ Chí Minh ? Hồ Học Lãm, Liêu Trọng Khải hay một người nào khác.

Bắc Việt đưa được Vũ Ngọc Nhạ vào dinh Độc Lập của Việt Nam Cộng Hòa thì thầy Hán của họ chắc chắn còn cao tay hơn.

Tôi không tin Hồ Chí Minh là người Việt kể từ giờ phút ông ta làm ngơ khi mấy tên cố vấn Tàu giết bà Nguyễn Thị Năm – một người yêu nước mình (1953).

Nguyên thủ quốc gia mà vô trách nhiệm với dân như vậy sao!

Xin mọi người Việt Nam tỉnh táo nhận ra rằng ngày trước các vị đứng đầu đảng Cộng sản Việt Nam là Trịnh Đình Cửu, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn đều ghét Tống Vân Sơ (tớ vẫn sống) Hồ Chí Minh.

Vì sao Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong tẩy chay Tống Vân Sơ và đuổi ông ta ra khỏi Đại hội I nhóm họp tại Ma Cao, năm 1935. Về sau, Hồ Chí Minh nhận đại biểu dự khuyết là man khai. Ông Nguyễn Chánh Nhì là đại biểu Xứ ủy Nam Kỳ có mặt tại Đại hội Ma Cao, năm 1935 sống ở Sài Gòn cho đến đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đã khẳng định điều đó.

*

Tại Đại hội II lấy tên là đảng Lao động Việt Nam (1952) Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng tức Lâm Bá Kiệt, Võ Nguyên Giáp tức Lý Quang Hoa là những người mang tên Tàu, biết rõ gốc tích Hồ Chí Minh mới bầu ông ta làm chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nước. Đây là khoảng thời gian Hồ Chí Minh ráo riết thực hiện chủ trương diệt chủng bằng nhiều hình thức như :

- Hợp tự phá đình chùa (1952) để xóa di sản văn hóa truyền thống.

- Cải cách ruộng đất giết sạch người hiền tài, đốt phá thư tịch cổ (1953-1956). -

- Phát động chiến tranh để dân tự diệt theo kiểu “ném đã giấu tay” với ngoa ngôn “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng, dù đốt hết dãy Trường Sơn cũng giành cho được độc lập” (1955-1975).

Người Việt Nam cuối cùng không còn, có nghĩa lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam vô chủ. Âm mưu của người Tàu là điều đó và chờ điều đó đã hàng nghìn năm.

*

Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Sinh Cung. Năm 1923 là Line. Năm 1924 là Lý Thụy. Năm 1927 là Vương. Năm 1930 – 1932 là Tống Vân Sơ. Chết vì bệnh lao ở Thượng Hải hay mất tích.

Năm 1939 Hồ Quang xuất hiện và nhận là Nguyễn Ái Quốc. Năm 1939 Hồ Học Lãm từ Nam Ninh xuống Quảng Châu thì cũng thời gian đó Hồ Quang từ Diên An theo Diệp Kiếm Anh về Hoa Nam.

Hồ Chí Minh là Hồ Quang về đường Vân Nam để tránh các cơ sở người Việt ở Quảng Châu. Về Pắc Bó ông ta chỉ tiếp xúc với những người không có mặt ở Quảng Châu trước đây. Trường Chinh, Bùi San, Hoàng Quốc Việt… Tất cả chỉ nghe hơi nồi chõ nên nhầm.

*

Từ sau Đại hội lần thứ III năm 1960 Lê Duẩn, Lê Đức Thọ là những người bạn thừa kế Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ đã vô hiệu hóa Hồ Chí Minh nhưng để an dân, họ đã dành cho ông ta quyền làm thơ chúc tết và “đóng kịch”.

Rất đau lòng dân tộc là lớp có thế lực đầu thế kỷ XXI lại ăn phải bả Tàu như Đặng Xuân Khu – Trường Chinh, Hạ Bá Cang – Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng – Lâm Bá Kiệt.

Đã đến lúc mỗi người Việt Nam cần biết Hồ Chí Minh là ai. Bởi kịp nhận ra ông ta là còn cơ may cứu nguy dân tộc tránh khỏi nạn diệt chủng tiếp.

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2011

Nguyễn Gia Định

Hồ Chí Minh – Ông là Ai ? (bài 2)

Xét cho cùng thời đoạn 1930 - 1939 Lý Thụy chẳng có trò trống gì đối với Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1939 với tên mới là Hồ Nam, Lý Thụy từ Diên An chuyển dần về Hoa Nam với tư cách là phụ tá Diệp Kiếm Anh.

     Đây là lúc cần minh định Lý Thụy, Tống Văn Sơ (Tớ Vẫn Sống), Hồ Nam, Hồ Chí Minh, Hồ Học Lãm. Bởi chính năm này Hồ Học Lãm cũng từ Nam Kinh xuống Hoa Nam.

      Năm 1941 những người cộng sản trong nước nghe hơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên đường về nước đang có mặt ở Vân Nam.  Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản lần thứ 8 họp tại Pắc Bó vào ngày 19-5-194, Hồ Nam tự nhận là mình Nguyễn Ái Quốc với tên mới là Hồ Chí Minh, tuyên bố thành lập Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh gọi tắt là  Việt Minh. Mọi người có mặt tại hang Côc Lếu giờ phút đó đều sáng mắt hồ hỡi như vị thánh cứu tinh dân tộc đã xuất hiện. Việt Minh tức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hàm súc quá, cách mạng quá, xóa ngay Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương của Hội nghị lần thứ 6 của Ban Thương vụ Trung ương đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Bà Điểm tháng 11 năm 1939.

    Tháng 2 năm 1979 đồng chí Đặng Tiểu Bình, người nhiều năm gắn bó với Diệp Kiếm Anh, Lưu Thiếu Kỳ, Hồ Nam “của” chúng ta, xua quân sang “dạy cho Việt Nam bài học” đã có hành vi phá sơ sơ hang Cốc Lếu làm ra vẻ  ghét ông Hồ Chí Minh lắm lắm. “Vải thưa che mắt thánh rồi”. Động tác giả che thần tượng thật mà thôi. Làm ra bộ ghét Hồ Chí Minh để dân An Nam tin Hồ Chí Minh hơn nữa là để cho Tàu thâm nhập sâu hơn nữa. Từ hành vi đó, người viết những dòng này giật minh và tự nghĩ “thôi rồi. Ông ta là người của Tàu đã chui sâu leo cao theo chủ trương Tàu. “Anh đưa được Vũ Ngọc Nhạ... vào dinh Ngô Đình Diệm, người khác không đưa được Hồ Chí Minh vào phủ Chủ tịch nước Việt Nam hay sao”. Thì ra “ở nhà nhất mẹ nhì con. Xem ra lắm kẻ còn giòn hơn ta”. Kỷ xảo Việt chỉ là bản sao vụng về kỷ xảo Tàu. Người ta mười anh chưa được một. Vậy thì anh làm được một người ta còn tinh vi hơn anh trăm nghìn lần. Động tác phá hang Côc Lếu năm 1979, cho tôi liên hệ đên 88 số báo Thanh Niên do đảng Cộng sản Trung quốc tặng đảng Cộng sản Việt Nam

     Non xa xa nước xa xa
     Nào phải phong lưu mới gọi là.
     Nọ suối Lê nin kia núi Mác
     Hai tay gây dựng một sơn hà.

    Bài thơ Pắc Bó tức cảnh của Hồ Chí Minh vừa vô ơn vừa vô lễ. “Nhàn cư vi bất thiện” tôi nhẫm lại mấy câu đầu của cuốn Lịch sử nước ta cũng do ông Hồ viết tại hang Cốc Lếu vào năm 1941 dưới dạng văn vần : “Triệu Đà là tổ nước ta. Nước tá lúc đó gọi là Văn Lang” và “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau dựng nước” trước bậc thếm đền Hùng (Phú Thọ, 1955) nó cứ bận tâm như đọc được manh tâm của con người này lại không luận ra được “Hồ Chí Minh. Ông là ai?”

     Tại sao viết “Triệu Đà là tổ nước ta” (1941) chính trong thời điểm vổ ngực “Hai tay gây dựng một sơn hà”. Mười bốn năm sau lại nói “các vua Hùng đã có công dựng nước”.

    Vì thế, cho đến nay tôi vẫn luôn luôn đặt câu hỏi, Hồ Chí Minh là ai ? Vì sao ông ta tự phịa ra Trần Dân Tiên để lắp các sự kiện lịch sử liên quan đến vận mệnh dân tộc Việt Nam vào những chặng đường vừa bí hiểm vừa mờ ám của mình?

     Câu hỏi này không dành riêng cho tôi mà là của toàn dân. Vì danh dự Tổ quốc và vận mệnh dân tộc, mọi người Việt Nam yêu nước chân chính hãy góp tài trí, công sức tìm cho ra tung tích Hồ Chí Minh. Còn kịp nếu không muốn nói là quá muộn. Bởi, một việc thất tín thì chín viếc thất tin. Đó là lẽ đời. Những người cộng sản một phần đã trót thì phải trét, một phần vì thần tượng Hồ Chí Minh là chỗ núp để vinh thân phì gia của họ. Mất thần tượng này họ phải giơ lưng cho dân chúng đấm hoặc bị đuổi ra khỏi lãnh thổ quốc gia.

    Xuất phát từ việc Hồ Chí Minh phịa ra nhà báo Trần Dân Tiên (vị Tiên dưới trần của dân) để tự thêu dệt nên “huyền thoại” về mình, tôi muốn xem xét lại mọi hành tung của ông ta và lôi ra mấy điều như sau :

     Trình độ nào thì chấp bút được bản “Thỉnh nguyện thư” 8 điểm gửi Hòa hội Véc xây, năm 1919? Xét trong lịch sử nhân loại thật lắm người tài xuất chúng. Nhưng trước khi xuất chúng họ đều học đến đầu đến đũa.

    Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1892 đã trót ghi nhận 1890 thì cứ tính vậy để xem việc học hành của anh ta ra sao? Lẽ cũng nên biết.
     1890 – 1895 chưa học.
     1895 - 1901 theo mẹ vào Huế trông em để mẹ xe chỉ dệt vải độ nhật.
     1901 – 1905 về ở nhà dì không học.
     1905 – 1908 Tiểu học Đông Ba.
     1908 – 1911 thất học lang thang.
     1911 – 1918 phụ bếp thất học.

     Ông Nguyễn Sinh Khiêm tức Nguyễn Tất Đạt, anh ruột Nguyễn Sinh Cung có học sớm hơn nhưng học vấn cũng không đáng gì. Vậy một người từng ấy năm (1890 – 1911)  lêu lổng như vậy mà viết nên “Thỉnh nguyện thư” với văn chương, chữ nghĩa, lệ luật, nguyện vọng bằng Pháp ngữ hàm súc mạch lạc như vậy ư?

    Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Lê Duy Điếm là những thành viên chủ chốt của phong trào Đông Du đã lập nên Tâm Tâm xã đều nghi ngờ và bất hợp tác với Lý Thụy. Bởi, một là hành tung của Lý Thụy thiếu minh bạch, hai là không có người đáng tin cậy làm môi giới, ba là một kẻ xa lạ, nhiều năm làm việc cho người Pháp, lại từ Pháp đến, trong khi Pháp đang truy lùng các thành viên Tâm Tâm xã của Phạm Hồng Thái. Cho nên, mấy năm giúp việc cho Bôrôđin, ở Quảng Châu, Lý Thụy chưa hẳn đã là người thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội như các giáo sư sử học đầu đàn ở Hà Nội viết.

    Nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc thì tại sao năm 1925 ca ngợi Phan Bội Châu là anh hùng cứu nước là vị thiên sứ quốc tế mà sau năm 1945, với bút danh T. Lan viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện” nhằm bổ sung “Những mẫu chuyện về đời hoạt động Cách mạng của Hồ Chủ tịch” mà ông ta cho Trần Dân Tiên đứng tên, lại lên án Phan Bội Châu cầu viện Nhật là “đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”. Tuy là việc nhỏ nhưng thiếu nhất quán thể hiện tiền hậu bất nhất. Từ đó suy ra Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc.

     Tại sao một người được mệnh danh là nhà hoạt động cách mang lỗi lạc, một thành viên của Quốc tế Cộng sản lại bị đày ra Xibiari?

     Ngày 19 tháng 5 năm 1941 tại hang Côc Lếu bản Pắc Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, trước mặt Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ, Phan Công, Bùi San... Nguyễn Sinh Cung tự giới thiệu mình là Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc. Ba tiếng Nguyễn Ái Quốc bật ra từ miệng ông ta làm mọi người có mặt bái phục và cảm tạ. Các nhà cách mạng Việt Nam bất kể đảng phái gì nghe đến Nguyễn Ái Quốc đã hâm mộ từ lâu. Nay con người bằng xương bằng thịt đó đã hiển hiện trước mặt thì vinh dự nào bằng.

       Hồ Chí Minh phán thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận Thông nhất dân tộc phản đế của Đảng Cộng sản Đông dương. Vốn sẵn sùng bái Nguyễn Ái Quốc mọi người răm rắp tuân theo. Từ đó Hồ Chí Minh trở thành thần tượng. Một số đảng phái đối lập như Việt Nam Quốc dân đảng gọi tắt là Việt Quốc; Việt Nam Cách mạng đảng gọi tắt là Việt Cách và một số nhân sĩ trí thức không đảng phải nhiệt liệt tham gia Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc. Riêng sự việc này nên phân xử sao đây? Bởi Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh tức Việt Minh vốn đã được Hồ Học Lãm thành lập tại Nam kinh năm 1936. Vậy thì Hồ Chí Minh chính là Hồ Học Lãm, người của Tưởng Giới Thạch. Nếu không, Hồ Chí Minh lại cướp công Hồ Học Lãm như đã cướp công, cướp tên Patriote Nguyen (Nguyễn Ái Quốc) về “Thỉnh nguyện thư, 1919. Quả là một sự chuyển hóa đặc biệt từ Nguyễn Ái Quốc tên chung của Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh sang Nguyễn Tất Thành. Và nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung thì ông ta đã vạch áo cho người xem lưng rằng mình đich thực là cháu nội Hồ Sĩ Tạo. Cái lắt léo là chỗ đó.

      Tại Hội nghị Cốc Lếu tháng 5 năm 1941 Lý Thụy - Tống Vân Sơ - Hồ Nam đã vỗ ngực nhận mình là Nguyễn Ái Quốc với tên mới là Hồ Chí Minh. Như vậy là Tổng đốc An Tĩnh Trần Đình Bá có lỗi với mẫu quốc, khi ông  từng khẳng định rằng Nguyễn Ái Quốc là tên chung của một nhóm các nhà chí sĩ nào đó bịa ra chứ ở Nghệ An nhất thiêt không có.

     Đầu năm 1942, Hồ Chí Minh về Trung Quốc lúc đó ai cũng biết là Nguyễn Ái Quốc bị người của Tưởng Giới Thạch bắt. Nếu đúng là Nguyễn Ái Quốc mà người Pháp cho là một đồng phạm cộng sản nguy hiểm đang phát lệnh truy nã thì một là bị Tưởng Giới Thạch thủ tiêu, hai là bắt để đổi cho Pháp với một sự ngang giá. Mọi người nếu biết Tưởng Giới Thạch thù ghét cộng sản đến mức nào thì mới tính được giá Nguyễn Ái Quốc trong tay Tưởng. Đằng này chỉ giam và thuyên chuyển liên tục qua các nhà tù như là quá trình đánh tráo,  huấn luyện, nhồi nặn, tẩy não, xác định lập trường. Năm 1943 Hồ Học Lãm chết! Tháng 10 năm 1944 Tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Hoa Nam của Tưởng Giới Thạch hoan hỷ thả Hồ Chí Minh về Pắc Bó.

    Hồ Học Lãm (1884-1943) hơn Hồ Chí Minh 6 tuổi, cũng là người Nghệ nhưng không đồng hội đồng thuyền với Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Lê Duy Điếm... Nghĩa là không tham gia thành lập Tâm Tâm xã, nhưng lại có uy tín đối với Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch và đã là con bài của Tưởng chuần bị cho hậu chiến thế giới lần thứ hai như là nhân vật dự bị thay thế Nguyễn Hải Thần khi cần thiết.

     Về thái độ chính trị có hai thời kỳ hằn lên rất rõ. Từ 1941 đến 1950 ông ta là một người chủ trương cách mạng dân tộc theo ngọn cờ “tam dân” của Tôn Dật Tiên. Từ năm 1950 lại ngả sang chủ trương “Thế giới đại đồng” của Mao Trạch Đông. Biến chuyển này tự nguyện theo xu thế thời đại hay vì một lẽ thất thế trước một áp lực nào đó không theo không được của sự chuyển nhượng giữa hai thế lực ngoại bang đang ôm mộng bá chủ hoàn cầu. Chí ít là viễn đông. Xin hậu thế soi xét.

      Lịch sử Trung Quốc cho ta một sự hiểu biết rằng, các triều đại của họ có thể lật đổ, thay thế nhau nhưng tư tưởng bành trướng Đại Hán thì không bao giờ thay đổi. Tần đã thế và Minh Thanh cũng vẫn thế.

     Một sự kiện đáng nói nữa là do biến động lịch sử sau ngày Nhật đánh Pháp ở Lạng Sơn, Pháp bại trân chạy về Bắc Sơn, người Bắc Sơn nổi dậy đánh Pháp. Đảng Cộng sản cử Trần Đăng Ninh lên Vũ Nhai cứu vãn tình thế trước sự đàn áp của Pháp. Đội Du kích Bắc Sơn ra đời. Vũ Bật học viên khóa Quân chính của Trần Tử Bình ở Bình Lục Hà Nam, được Trần Đăng Ninh lựa chọn làm chỉ huy du kích Bắc Sơn. Nhu cầu khởi nghĩa vũ trang đặt ra cho những người cộng sản tổ chức quân đội. Phùng Chí Kiên, Lương Văn  Chi chuyển đơn vị du kích của Vũ Bật (tức Nguyễn Cao Đàm) thành Việt Nam Cứu Quốc quân và làm lễ tế cờ thành lập tại khu rừng Khuổi Nọi, bản Tứ Tổng, xã Vũ Lễ, huyện Bắc sơn vào ngày 16-2-1941. Đơn vị Cứu Quốc này về sau phát triển thêm Cứu Quốc quân 2 do Lưu Xuân Trường chỉ huy.

      Trước Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 Cứu Quốc quân là lực lượng vũ trang đã hoạt động trên địa bàn Đông bắc và Việt bắc, Trung du Bắc bộ. Vậy mà Hồ Chí Minh lại cố ý xóa lực lượng này với mấy chữ viết tay giao cho Võ Nguyên Giáp thành lập đội “Võ trang tuyên truyền giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Và khăng khăng lấy đó làm ngày thành lập lực lượng vũ trang cách mạng để giành danh nghĩa “Cha đẻ của quân đội cách mạng”. Cái gọi là chiến công Pay Khắt, Na Ngần của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân năm 1944 là đánh vào hai đồn biên phòng trống chỉ còn vài lính dõng trông nom như người giữ nhà. Làm rùm beng lên để lấy tiếng là chiến công thủ thuật Hồ Chí Minh. Và tấm ảnh chụp Võ Nguyên Giáp với đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phong quân là ảnh giả do nhà quay phim Cácmen của Liên xô dựng lại vào dịp sang quay phim chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Nghĩa là gần 10 năm sau.

    Nhiều tướng lĩnh đã từng đặt câu hỏi “Cứu Quốc quân” với “Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” tổ chức nào ra đời trước và thể hiện chất đấu tranh vũ trang hơn? Rõ ràng Cứu Quốc quân xét về ngữ nghĩa là đội quân cứu nước. Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chỉ là đội quân nặng về tuyên truyền giải phóng. Vả lại, ngày 16-2-1941 của Cứu Quốc quân trước ngày 22-12-1944 của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân 3 năm 10 tháng 10 ngày.

     Một điều đáng ngờ là sau Hội nghi 8, Bùi San ủy viên xứ ủy Trung Kỳ và Phan Công Bí thư Hà Nội từ Hà Quảng về đường Ngân Sơn đều bị Pháp bắt và đã khai báo cánh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt về đường Bình Gia, Bắc Sơn. Pháp tập trung lực lượng chặn bắt ráo riết ở Bắc Sơn thì Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi lại gặp nạn ở Bắc Cạn. Có người hoài nghi Chu Văn Tấn chỉ điểm. Chu Văn Tấn, Chu Văn Lường từ Trung Quốc qua làm lính dõng cho Pháp.

    Biến cố Bắc Sơn vào ngày 22 tháng 9 năm 1940, Nhật vào Đông Dương, Pháp ráo riết truy bắt những người cộng sản nên Thái Nguyên mà chủ yếu là Vũ Nhai trở thành “khu an toàn”. Hoàng Văn Thụ là người Tày (Lạng Sơn) đã chọn nhà Chu Văn Tấn để làm nơi ẩn náu. Sự hội ngộ của Chu Văn Tấn, Hồ Chí Minh tại Pắc Bó năm 1941 nhanh chóng trở thành gắn bó keo sơn.

     Qua nhiều cuộc tọa đàm tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương của một số cán bộ cao cấp, trước ngày bị quản thúc, Chu Văn Tấn bao giờ cũng khẳng định ngày thành lập Trung đội Cứu Quốc quân đầu tiên là 01 tháng 5 năm 1941 (Quốc tế Lao động) và do ông ta làm trung đội trưởng. Nhà văn quân đội Đại tá Ngọc Tự đã viết hồi ký Chu Văn Tấn nhấn rất mạnh điều đó. Tại sao Hồ Chí Minh và Chu Văn Tấn đều cố ý xóa ngày 16 tháng 2 năm 1941 của Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi, Nguyễn Cao Đàm, Hoàng Văn Thái... Tại sao người có công duy trì và phát triển Cứu Quốc quân từ năm 1942 đến 02-9-1945 là Lưu Xuân Trường lại bị gạt bằng sự vu cáo của Chu Văn Tấn để cuối cùng chỉ là một trợ lý “ngồi chơi xơi nước” ở Tòa soạn báo Nhân Dân. Nếu là người có trí, có nhân và có dũng, hơn ai hết Hồ Chí Minh ở vị trí của mình lúc đó biết rất rõ điều này cần có tiếng nói bảo vệ lẽ phải. Nhất nhất về hùa với Chu Văn Tấn.  

Vậy thì ông ta là người của ai?

    Nói về Hồ Chí Minh cả năm không hết nghi ngờ. Chung quy lại tôi thấy ông ta là một người bí hiểm và trong cuộc đời bí hiểm đó ông ta luôn luôn xí phần và tệ hơn nữa là tranh công. Xin tóm tắt như sau:

    Trình độ Tiểu học Đông Ba năm 1908, 10 năm bôn ba bếp núc, trở thành “tác giả” Thỉnh nguyện thư gửi Hòa hội Véc xây năm 1919.

    Đầu năm 1925 có mặt ở Quảng Châu Trung Quốc  với phận sự là người giúp việc mà “thành lập” được Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội; rồi lại “thành lập” được Hội Liên hiệp Các Dân tộc bị áp bức ở Á Đông rồi “giao” cho một người có tầm chính khách là  Liêu Trọng Khải (người Trung Hoa) làm Hội trưởng;  “mở”  được 10 khóa huấn luyện đào tạo 200 chiến sĩ cách mạng có tri thức về chủ nghĩa cộng sản và cách mạng tháng Mười Nga làm hạt nhân của phong trào cộng sản Đông Dương; “tổ chức in ấn” và “phát hanh” trăm tờ báo Thanh Niên. Do bị thất lạc Đảng cộng sản anh em Trung Quốc chỉ mới sưu tầm được 88 số. “Xuất bản” sách Đường Kachs mệnh làm tài liệu gối đầu dường cho các nhà cách mạng Việt Nam...

    2 năm 5 tháng trong phận sự là người giúp việc cho Bôrôđin ở Thành phố Quảng Châu trong tay Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch, lại bị Pháp ráo riết truy tìm những người đồng chí của Phạm Hồng Thái mà làm được những điều như thế quả là lạ. Thử đặt uy tín và trình độ Lý Thụy vào bối cảnh Quảng Châu năm 1925-1926 chung quanh chưa có quần chúng cách mạng càng chưa có đồng chí tin cây, mà tài chính chỉ là số không làm sao múa may được vậy?

    Tôi hoài nghi vế sự ngụy tạo báo Thanh niên mà người đạo diễn có lẽ bên ngoài biên giới nhằm mục đích cũng cố uy tín cho người của mình.

    Xin nói lại điều đã nói là nhóm thanh niên Việt Nam thành lập chi bộ cộng sản tại trường Đại học Phương Đông Mạc Tư Khoa đều từ Quảng Châu sang. Họ là thành viên của Việt Nam Thanh niên Cách Mạng Đồng Chí hội hoặc đồng minh của hội này. Nếu Lý Thụy là người sáng lập hội đó và nhất là giảng viên của họ thì lẽ nào họ lại tẩy chay không tiếp khi ngỏ ý muốn đến trường thăm viếng họ.

    Sau ngày hợp nhất Đảng 3-2 người được bầu làm Tổng bí thư là Trịnh Đinh Cửu đã đón Trần Phú từ Liên xô về ở 9 Hàng Bông Ruộm (Hà Nội). Với kiến thức đã học tại Mạc Tư Khoa và với thực tiễn phong trào công nhân nhà máy dệt Nam Định, nông dân Tiền Hải Thái bình, công nhân xi măng Hải Phòng mà Trịnh Đình Cửu cùng Trần Phú trực tiếp tìm hiểu đã viết nên Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương. Để giành cho được mình là người sáng lập Đảng, Nguyễn Sinh Cung  (tức HCM) đạo văn thành Chánh cương vắn tăt và Sách lược vắn tăt.
    
    Tóm lại, Hồ Chí Minh là một nhân vật sinh ra để tranh giành thành quả của người khác.

     Điểm cuối cùng tôi còn áy náy là liệu Hồ Chí Minh có phải là người của Tưởng Giới Thạch nhưng sau khi thất thế ở Hoa lục đã bán cho Mao Trạch Đông, Diệp Kiếm Anh để người Hán vẫn duy trì chủ trương bành trướng và thôn tính Việt Nam hay không?

    9 năm kháng chiến chống Pháp vùng nào gọi là tự do dưới sự quản lý của Chính phủ Hồ Chí Minh là ở đó có chủ trương hợp làng, hợp xã, hợp tự để xóa mọi địa danh truyền thống Việt nhất là những địa danh và di sản văn hóa còn dấu vết cuộc kháng chiến chống Minh thế kỷ XV. Cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh xét cho cùng đều nhằm tiêu diệt đội ngũ nhân sĩ trí thức, di sản văn hóa truyền thống dân tộc. Chỉ cần lưu ý một chút thôi là người ta rất dễ nhận biết cái gì quân Minh thế kỷ XV chủ tâm phá mà phá chưa hết thì Hồ Chí Minh phá tiếp.

    Làm một vị chủ tịch nước mà người Tàu tuyên án giết người mình ông ta với tư cách nguyên thủ quốc gia vẫn bình chân như vại không hề băn khoăn áy náy. Thời quân chủ tập quyền Thượng thư Bộ Hình muốn kết án gì thì tùy nhưng riêng án tử hình phải để vua quyết. Hồ Chí Minh chưa làm được điều đó.

    Và cái gọi là Cải cách ruộng đất mà Hồ Chí Minh hô hào tổ chức thực hiện là chủ trương diệt chủng do Mao Trạch Đông đề xướng. Hồ Chí Minh nhận lệnh từ Mao. Bởi vậy ông ta không hề đau xót khi dân mình bị giết mà trái lại còn hoan hỷ. Chân tướng tội ác của bọn họ bị dư luận phản đối có nguy cơ bị lật mặt thì vội vả xoa dịu gọi là sửa sai. Sửa cái gì. Khi những người ưu tú của dân tộc Việt đã bị bắn, bị chém, bị chôn sống, bị đập bằng cào, cuốc, gậy gộc, gạch đá... Để chạy tội Hồ Chí Minh đưa Võ Nguyên Giáp là người được coi là tác giả chiến công Điện Biên Phủ xin lỗi toàn dân. Hồ Chí Minh đứng đàng sau vỗ tay theo bài dạy của quan thầy “Ngọa sơn quan hổ đấu”.

Điều đáng buồn là dân ta bị ông ta tổ chức giết, làng xã ta bị ông ta cho thay đổi để xóa di sản văn hóa lâu đời. Đình chùa bị ông ta triệt giải để thủ tiêu nên văn hóa dân tộc... Vậy mà cứ dương dương tự đắc coi ông ta là cha già dân tộc. Suy cho cùng cái chết của dân ta dưới tay Hồ Chí Minh một phần do dân ta ngây thơ và dại dột làm nên.

    Sơ kết mẫu viết này mọi người nghĩ lại xem vì cớ gì mà một gia đình quan Phó bảng ruỗng ra đến thế. Ông Phó bảng bê tha tứ cố vô thân. Vậy mà nghe đâu, thời gian ở Cao Lãnh vị Phó bảng vô gia cư này cũng còn khoèo được một nàng nhẹ dạ nào đó đã cho họ Nguyễn Sinh, sinh thêm một sinh linh. Vì không nơi nương tựa nên đứa con hoang này được thả vào nhà chùa về sau trở thành nhà tu hành danh tiếng. Con gái lớn không lấy được chồng. Con trai lớn không có vợ. Quả là con nòi của giống.

Chân dung Hồ Chí Minh dược tạo nên từ hình chụp môt người Tàu


Nguyễn Gia Định



Hồ Chí Minh – Ông là Ai ? (bài 3 - a)

PHẦN BA:  Những sự kiện và các nhân chứng đương thời với Hồ Chí Minh                                                                                              

*** 

Nghĩ về Thế Việt tâm Tàu

"Công lao vĩ đại nhất của Hồ Chí Minh là đã tạo nên được một đảng cộng sản người Việt cho Tàu. Những gì đang diễn ra trên đất nước hôm nay là kết quả mỹ mãn của công lao đó".

Chân dung Hồ Chí Minh dược tạo nên từ hình chụp môt người Tàu
          Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc ngày nay là một địa chỉ du lịch nỗi tiếng trên toàn thế giới. Sự kỳ vĩ, ngoạn mục, tuổi thọ, quy mô đằng nào cũng chiếm kỷ lục nằm sờ sờ ra giữa trung nguyên hùng vĩ để nhân loại hôm nay nhìn thấy sức người Tàu trên hai nghìn năm trước đã ghê gớm như thế. Vâng! Hơn hai nghìn năm trước địa giới nước Tàu ở đó nên mới làm nên tên nước là Trung Hoa. Cái đẹp ai cũng mê. Hùng vĩ ai cũng nể. Và, trong cái độ dài làm nên trường thành ấy, người ta tĩnh tâm còn nghe rõ tiếng khóc ai oán, còn nhìn thấy dấu tay của cư dân  nước Tần với sáu nước láng diềng Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy bị xóa sổ. Ngày ấy biên cương Trung Hoa xa Văn Lang vạn dặm mà quân nhà Tần đã tràn xuống phương nam rồi. Ngày nay “Vạn Lý Trường Thành không là biên cương nữa. Trung Hoa thành Đại Trung Hoa. Bách Việt bị thôn tính.

          Sử ký một nghìn năm Bắc Thuộc, con nít nước ta đứa nào cũng thuộc. Vạn Lý Trường Thành oai hùng, các nhà cầm quyền nước ta đứng đầu từ cấp huyện trở lên hình như người nào cũng đã được đặc ân chiêm ngưỡng. Không biết, khi đi trên “Vạn Lý Trường Thành” trong số họ có ai thầm nhắc câu hát mà Trinh Công Sơn đưa vào ca khúc hay không!

                   “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu”

          Vạn Lý Trường Thành xóa xong ranh giới sáu nước vào năm 221 trước Công nguyên thì ngay lập tức, Tần Thủy Hoàng cho quân tiến lên phía bắc chiếm đất người Hung Nô lập nên Hà Sáo đồng thời xua quân xuống phía nam thôn tính Bách Việt. Nhâm Ngao và Triệu Đà được sai đánh chiếm Âu Lạc (214 trước CN).

          Trong cuốn “Lịch sử nước ta” (diễn ca) của Hồ Chí Minh viết vào năm 1941, bản in thạch cở nhỏ dạng sổ tay khoảng 8cm x 12cm, tôi được đọc một lần khi mới phát hiện, nhớ mấy câu đầu là “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Lạc Long... Triệu Đà là tổ nước ta. Nước ta khi đó gọi là Văn Lang...”

          Tôi và vài người bạn đều trố mắt nhìn nhau. “Triệu Đà là tổ nước ta” ?. Từ đó tôi biết sợ.

          Quân của Nhâm Ngao, Triệu Đà xông vào cướp Âu Lạc. Nhân dân Âu Lạc tản vào rừng, nhờ rừng để tránh và để chống ngoại tộc cướp nước.

          Triệu Đà không làm gì được bèn thay mưu. Cho con trai là Trọng Thủy sang lấy vợ, ở rể. Vì mất cảnh giác, thành Cổ Loa vào tay Triệu Đà, An Dương Vương cõng con gái chạy về phía Hồng Lĩnh. Vào đến đất Nghệ mới được thần nhân cho biết giặc ngồi sau lưng mình. Thì ra giặc là người trong nhà. Ta mất nước thì ra do người trong nhà. Chỉ một chút nhẹ dạ cả tin thôi dân ta phải chịu “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu”. Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường thay nhau cai trị nước ta. Cho hay triều nọ suy, triều kia thịnh, nội bộ người ta sát phạt nhau, nhưng mục tiêu bành trướng Đại Hán với tính tham lam, tàn bạo, nham hiểm trong thống trị ngoại tộc thì không thay đổi. Di dân, chiếm đất, đồng hóa song hành với tiêu diệt bản địa … trước Công nguyên hay sau Công nguyên vẫn thế.

          Năm 938 may có ông Ngô Quyền không thèm bả vinh hoa phương Bắc đã hô hào dân chúng làm cuộc kháng chiến chống quân xâm lược đời Đường. Rừng góp sức làm nên chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất. Thế rồi, rừng lại làm nên chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai dưới thời Lê Đại Hành (981).

          Sang thế kỷ XIII, quân Nguyên đã gây nên sợ hãi ám ảnh không chỉ các nước phương Đông mà lan tràn khắp lục địa Á, Âu. Nhờ rừng và biển vua Trần mới bảo toàn lực lượng tổ chức kháng chiến. Lại nhờ rừng Trần Hưng Đạo Đại Vương mới làm nên chiến công Bạch Đằng lần thứ ba (1288).

          Thơ ông Tố Hữu tôi mê không được, nhưng câu “Rừng che bộ đội, rừng ngăn quân thù” thì tôi nghĩ là ông rất biết tác dụng của rừng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giữ nước.

          So về bằng cấp học vị, ông Tố Hữu không bằng các “nhà” trị dân trị nước ngày nay, nhưng ông có tầm nhìn, nếp nghĩ như bàn dân ta, như tổ tiên ta mà không như bộ này bộ nọ đang cai trị dân ta. Đang lừa phỉnh dân ta thì đúng hơn. Lẽ nào họ không biết vị thế rừng giúp dân tộc ta giữ nước ? Họ bán rừng đầu nguồn, bán Bô xít Tây Nguyên, bán một số cảng nước sâu, miễn thị thực nhập cảnh... gợi lên cho tôi ý nghĩ rằng từ ngày có cụ Hồ, DÂN ta đã “nuôi quá nhiều ong trong tay áo”.

          Từ kinh nghiệm xâm lược, người Tàu nhận ra thế chiến lược phòng thủ và tiến công từ rừng của ta. Từ âm mưu thôn tính ta hàng nghìn năm qua, người Tàu nhận ra tầm quyết định của nội thuộc. Thời trước tìm mọi cách đưa Trọng Thủy sang làm con rể, lấy cho được bí quyết nỏ thần. Ngày nay đổi hướng, người ta tìm mọi cách vun đắp tô điểm vị “cha già dân tộc” còn cao tay hơn. Đã có “cha già” càng cần nhiều con trẻ. Làng Tàu theo dự án đầu nguồn mà lập nên mọi nơi có rừng. “Thâm Nho” là chỗ đó.

          Thưa ông Tố Hữu. Thơ ông bị đàn em của ông sử lại rồi:

                   “Rừng che mưu giặc, rừng ngăn dân mình

          Hài lòng chưa các ông!

          Là dân nước ta, từng chia sẻ với vị thế nước ta “Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông. Chung một biển Đông chung tình hữu nghị”. Ca khúc hay ho đó họ chế cho ta ra rả hát để họ ra rả bắn giết, đánh đập, cướp bóc Ngư dân ta trên biển, thủ tiều lâm dân ta trong rừng. Lịch sử Trung cộng cho ta biết rằng họ không thực thi chủ nghĩa cộng sản trên đất nước họ mà chỉ tâm đắc thuyết “Thế Giới Đại Đồng” để thực hiện chủ nghĩa bá quyền mà thôi.

Bởi chủ nghĩa bá quyền là không định được biên giới quốc gia. Thôn tính và thôn tính, đó là “học thuyết Trung Hoa”.

          Ta bé nhỏ mà phải đội cái thúng đá to quá cở trên đầu. Thế nước Nam là thế! Nhìn xem bản đồ nước ta và nước Tàu có phải thế không! Đầu ta bị lún sâu vào đít thúng nên không nhìn thấy gì nữa. Ta cong lưng đến bao giờ? Vạn Lý Trường Thành 200 năm trước Công nguyên đã liếm xuống biển Đông theo cái lưỡi bò và tham vọng Trung Hoa chắc chắn không dừng lại đó.

          Người đội đá không nhanh tay hất sang một bên hẳn là tự sát.

          “Cha già dân tộc” lập mưu “dắt năm châu đến đại đồng” là cốt phỉnh ta phải yêu Tàu, nhưng đã đến lúc ta nên “bất hiếu” với “cha”. Bởi láng diềng “bốn tốt” của ta cần không gian sinh tồn cho người Hán, không cần thuộc dân. Có thế mới cứu được cộng đồng các dân tộc Việt Nam qua khỏi nạn diệt chủng.

          Thời Minh Mạng (1820 -1841), mỏ đồng Tụ Long nằm trong lãnh địa Đại Nam, do nhà nước Đại Nam tổ chức khai thác. Ngày nay Tụ Long nằm sâu trong lục địa Tàu. Lẽ nào các nhà cầm quyền hiện thời không biết! Năm 1955 “anh ta” giúp ta khôi phục tuyến đường sắt Nam Quan - Hà Nội. Bởi quá “thiện chí” “anh ta” làm mẫu 10 km từ ải trở vào rộng 1,40m như đường bên nước anh ta, nói là để khi thế giới đại đồng thì đường sắt xuyên lục địa đều thống nhất cùng một cở. “Bác” bảo thế! Ta tưởng thật, để “anh ta” vô tư làm. Ngót ba mươi năm sau, “anh ta” cãi đường rộng 1,40m đến đâu là biện cương của “anh ta” đến đó.

Lẽ nào các nhà cầm quyền hiện thời không biết ? Ngày trước, mỗi lần xuống Ninh Bình, tôi nhìn cái ống khói của nhà máy thiêu hủy than đá Quảng Ninh chính phẩm do Tàu giúp ta xây dựng vừa đốt than vừa ban phát bụi cho toàn thành phố đồng thời làm cái “dương” cắm giữa cái “âm” của Ngọc Mỹ Nữ (núi Cánh Diều) đã bị họ, vâng! chính họ chặt đôi chân Thần Nhân nằm ngả giữa trời (1955). Yểm. Người Tàu yểm. Dân Ninh Bình thuở đó bảo thế!

          Những điều như thế, lẽ nào các nhà cai trị không biết!

          “Bác vẫn còn chúng cháu hành quân” sao đặng.


         Quảng Châu với Hồ Chí Minh

     Dường như mọi loại sách báo, giáo trình, giáo khoa các cấp học từ vở lòng đến đại học, học viện... khi viết về Hồ Chí Minh đều dựa vào cuốn “Những mẫu chuyện về đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch” do Trần Dân Tiên biên soạn.

      Trần Dân Tiên đóng vai nhà báo nhiều lần xin gặp Hồ Chí Minh nhưng vì “người bận trăm công nghìn việc” nên không thể được, đành phải tự lần mò khắp hang cùng ngõ hẽm mới góp nhặt được ít nhiều mẫu chuyện về một con người mà “cả cuộc đời chỉ vì dân vì nước bôn ba khắp năm châu bốn biển”. Từ lẽ đó, Trần Dân Tiên không thể đi hết, viết hết mọi chuyện về vị lãnh tụ tối cao này mà chỉ chắp nối từng đoạn như vẽ một con rồng khi ẩn khi hiện trong mây.  

      Được đọc “Những mẫu chuyện về đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch” ai ai cũng cảm động và cảm phục Trần Dân Tiên tận tâm, chịu khó. Rõ ràng là, nếu không có Trần Dân Tiên mấy ai biết được công lao vĩ đại của “Bác Hồ”.

      Trường mẫu giáo là nơi bắt đầu “trồng người” hay học viện chính trị quốc gia là chốn đào tạo quan liêu các cấp để “gài người”, tất thảy đều dựa vào Trần Dân Tiên mà ngợi ca Hồ Chí Minh.

      Trên cõi đời này chưa có nhà báo nào sánh được với Trần Dân Tiên.
      Trên cõi đời cũng không có ai như Hồ Chí Minh bịa ra Trần Dân Tiên để thêu dệt về mình.

      Với người Việt Nam ta “mèo khen mèo dài đuôi” đã bị lên án, đã bị chế riễu và được liệt vào loại tiếu lâm. Trần Dân Tiên quả là nhân vật tiếu lâm và là tay viết tiếu lâm có nghề. Nghề tinh từ nền tảng năng khiếu. Năng khiếu xuất chúng do tâm làm điểm xuất phát. Cái tâm Hồ Chí Minh làm nên nhà báo Trần Dân Tiên không ngoài lẽ đó.

       “Vào nửa sau năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, lần lượt tham dự hội nghị Quốc tế nông dân (15-101923), Đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản (17-6 đến 18-7-1924), Đại hội lần thứ tư Quốc tế thanh niên, Đại hội lần thứ ba Quốc tế phụ nữ cộng sản, Đại hội lần thứ ba Quốc tế công hội đỏ và Đại hội lần thứ nhất Quốc tế các chiến sĩ cách mạng (tức Quốc tế cứu tế đỏ). 
      …
      Sau các hội nghị quốc tế, Nguyễn Ái Quốc còn ở lại Liên Xô làm việc trong Quốc tế Cộng sản, nghiên cứu chế độ xô viết, nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức một chính đảng kiểu mới theo học thuyết Lê nin, tiếp tục tuyên truyền những luận điểm của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trên báo sự thật của đảng Cộng sản Liên Xô và tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản.
      …
      Sau khi dự Đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản và các hội nghị quốc tế khác, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc).

    Tháng 6-1925, tại đây người đã lựa chọn một số chiến sĩ trẻ tuổi trong tổ chức Tâm tâm xã và một số thanh niên yêu nước đã từng hoạt động dưới ảnh hưởng của Phan Bội Châu để lập ra một đoàn thể cách mạng có xu hướng mácxit – đó là Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (gọi tắt là Thanh niên).

     Tháng 7 năm đó, cùng với các nhà cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, Indônêsia, Mã lai, Ấn Độ...Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông do ông Liêu Trọng Khải (Trung Quốc) làm hội trưởng. Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội có quan hệ mật thiết với tổ chức này”.

  (GS Lương Ninh (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam Giản Yếu, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nôi, 2000, trang 451-452). 

      Thiết nghĩ nếu không có Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh), sáu giáo sư đồng tác giả lấy đâu ra tư liệu viết được những dòng hay đến thế ?

     Nhân những ngày vừa qua, Tàu thực hành “bốn tốt” với ta ngoài biển Đông, Hà Nội thường hay có người tụ tập thể hiện tinh thần yêu nước, để tránh mọi hành vi biểu tình, tôi ngại ra đường. Vốn nhát gan, sợ các “đồng chí còn đảng còn minh” lôi về đồn nên tôi nằm nhà đọc sách và ngủ. Gặp những dòng trên đây, lấy làm đắc chí chép lại hầu bạn đọc gần xa.

     Đã đọc là phải ngẫm, tôi nhận ra lắm lẽ đáng quan tâm. Vào nửa sau năm 1923,  Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, với tư cách gì mà lần lượt tham dự nhiều hội nghị Quốc tế thế? Có đảng nào cử đại biểu trước hàng năm trời để đi dự liền tù tì tất cả các hội nghị Quốc tế. Đến khi kết thúc mọi hội nghị thì đại biểu được cử đi không quay về nơi xuất phát để báo cáo thu hoạch mà lặng lẽ về Quảng Châu (mùa Thu, 1924). Đảng Cộng sản Pháp dư quỹ đài thọ đại biểu và quản lý đảng viên hời hợt, lỏng lẻo vậy sao? Đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản kết thúc vào cuối tháng 7 năm 1924. Sau đó “đồng chí Nguyễn Ái Quốc” còn dự một loạt hội nghị quốc tế khác và còn ở lại “nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức một chính đảng kiểu mới theo học thuyết Lê nin, tiếp tục tuyên truyền những luận điểm của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trên báo sự thật của đảng Cộng sản Liên Xô và tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản (sách đã dẫn, trang 451).

       Cái tài của các giáo sư sử học - tác giả công trình này là nói được những điều lạ tai. Một người Việt Nam thất học trình độ tiểu học Đông Ba (Huế), bị đuổi khỏi trường đi làm phụ bếp độ nhật, nhảy lên Paris sau ngày chiến tranh thế giới kết thúc, viết được “Thỉnh nguyên thư gửi Hội nghị Quốc tế tại cung điện Véc Xây (1919)” rồi sang Nga lại viết báo “tuyên truyền những luận điểm của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa” cho dân Nga đọc, rồi về Trung Quốc thành lập tổ chức quốc tế rồi giao cho một nhân sĩ Trung Quốc làm hội trưởng… Quả là ghê gớm.

        Chú tôi, một giáo sư vào lớp đàn anh, có mặt ở Nga khá sớm đang ôm trong lòng một nỗi day dứt chưa dám ngõ cùng đời, rằng năm 1955 Hồ Chí Minh sang Nga báo cáo về cải cách ruộng đất, chú tôi được đi làm phiên dịch. Cảm tưởng đầu tiên là tiếng Nga của Hồ Chí Minh chỉ đủ để giao tiếp thôi. Viết lách chắc còn vất vả lắm. Trong một buổi đàm thoại bằng tiếng Pháp với một người Pháp, “Bác” tưởng chú tôi thuộc loại trẻ con nhà quê ra tỉnh mới sang hoc tiếng Nga, không biết gì về tiếng Pháp nên đã dùng tiếng bồi nhà nghề nói với người Pháp kia một số lời làm chú tôi giật mình. “Lẽ nào Bác lại là mật thám Pháp”. Điều day dứt đó chú tôi dặn “sống để bụng, chết mang theo” đừng hở ra mà mang tai họa khó lường. Nghe lời chú, tôi ngậm miệng từ đó cho đến hôm nay Tàu gây hấn mới dám ngõ vụng cùng đời. Và nếu Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam vì Tàu mà ra lệnh cho thuộc hạ gây tai nạn giao thông hại tôi, tôi cũng cam lòng hả dạ là đã nói được điều nên nói.

      Tôi muốn nhắc lại điều này vì mấy lẽ - Đại hội lần thứ V của quốc tế cộng sản diễn ra từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 08 tháng 7 năm 1924 là mạnh Thu. Sau Đại hội đó “người” còn tham dự một loạt Đại hội của Thanh niên, Phụ nữ, Công hội, Cứu tế đỏ. Đã dự quá nhiều đại hội lại bỏ ra một thời gian để nghiên cứu và viết bài tuyên truyền cho người Nga hiểu Lênin, mà đến tháng 8 trọng Thu “người” đã có mặt tai Quảng Châu với tên mới là Lý Thụy rồi. Thánh thật! Một tháng thôi sao làm nhiều việc thế!

      Quảng Châu những năm 1924 – 1927 là tai mắt dò la mà nội bộ là Quốc – Cộng, ngoại bộ là Anh, Pháp, Nga, Nhật...Nghĩa là luôn luôn có sự rình rập của mọi kẻ thù. Nguyễn Ái Quốc lại ngang nhiên lựa chọn người này loại bỏ người kia để đứng ra thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội dễ như mua bán giữa chợ trời vậy sao! Tôi nghĩ những việc này đều phải coi lại. Bởi Trần Dân Tiên (HCM) khoe cốt để giúp Hồ Chí Minh – Trọng Thủy của thế kỷ XX, chiếm lĩnh ngôi cao nhất nhằm lái Việt Nam nhập vào quỹ đạo “Xích quỷ” Tàu. Các giáo sư hăng hái quá nên không kịp nghĩ.

      Về những thanh niên yêu nước có mặt ở Quảng Châu có thể chia thành hai thời đoạn trước và sau năm 1925. Trước năm 1925 là lớp thanh niên thuộc phong trào Đông Du,  do Phan Bội Châu đề xướng và kêu gọi đã có mặt tại Nhật khoảng 200 người. Nhật tẩy chay theo yêu cầu của Pháp (1908), một số người đổi tên ở lại học hành và tìm việc làm độ nhật, một số chạy sang vài ba nước châu Âu, đại bộ phận theo Phan Bội Chau về Quảng Châu. Tại đây họ là những người làm nên Việt Nam Quang phục Hội (19/6/1912), về sau một số thành lập Tâm Tâm xã. Từ Tâm Tâm xã một bộ phận chuyển thành Việt Nam Quốc dân đảng (19/6/1924). Lớp thứ hai, sang sau năm 1925 là những người chứng kiến, tham gia phong trào đòi tha Phan Bội Châu và dự đám tang Phan Chu Trinh.

      Xin mọi người nhớ rằng Quảng Châu sau khi quả bom Phạm Hồng Thái mưu giết toàn quyền Mec lanh nổ tai khách sạn Victoria ở Sa Điện thuộc tô giới Pháp (ngày 19 tháng 6 năm 1924) thì mạng lưới mật thám Pháp rải khá dày ở “thủ đô” cách mạng Việt Nam lưu vong này. Kế đến, là vị lãnh tụ thiên cộng Tôn Trung Sơn đột ngột qua đời tại Bắc Kinh trong một chuyến công cán (12/3/1925), chính phủ Quảng Châu thuộc quyền điều hành của Đới Quý Đào và Tưởng Giới Thạch. Hai nhân vật này là hai lưỡi gươm thanh cộng không nương tay. Mọi ngõ ngách Quảng Châu đều được kiểm soát nghiêm ngặt. Bởi vậy không bao lâu sau đó phái bộ Nga do Mikhain Bôrôdin cầm đầu phải rời Quảng Châu về nước, chấm dứt công việc của Lý Thụy. Tiếp theo là vụ Phan Bội Châu bị chỉ điểm để Pháp bắt tại ga xe lửa Thượng Hải vào ngày 01 tháng 6 năm 1925. Đối với người Việt trong và ngoài nước, nhất là tại Quảng Châu, Phan Bội Châu bị Pháp bắt là một tổn thất nặng nề và ngay lúc đó người ta nghi do có người chỉ điểm. Nguyễn Thượng Huyền, Lâm Đức Thụ, Lý Thụy là ba nghi can hầu như đã được xác định. (Nhóm năm thanh niên Việt Nam được Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội gửi sang học tại trường Đại học Phương Đông ở Mạc Tư Khoa không cho Line (tức Lý Thụy, Thậu Chín) vào ký túc xá (1929) một phần xuất phát từ lý do trên).

     Có điều mong được các giáo sư - tác giả công trình vừa nêu giải thích thêm là tại sao một người mà các tác giả đã viết là của Quốc tế cộng sản lại không rút về Nga theo phái bộ Bôrôđin mà bị bỏ lại, rơi vào tình thế “lưng không bén đất. Cật không đến trời”.  Tại sao khi Trương Vân Lĩnh báo Tưởng Giới Thạch đã có lệnh truy nã, Lý Thụy không tìm được bất cứ một chỗ dựa nào trong anh em Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội đang có cơ sở ở Quảng Châu để nương thân mà lại phải chạy sang Phì Chịt (Thái-lan) ăn nhờ ở đậu tại Trại cày Đặng Thúc Hứa? Và tại sao, một người được các tác giả đề cao là sáng lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, mà 6 lần tổ chức này họp với Việt Nam Cách mạng đảng (Tân Việt) trong nước để bàn về hợp nhất, “người sáng lập” lại không hay biết gì. Đến như Đại hội lần thứ nhất của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội họp tại Hương Cảng ngày 01 tháng 5 năm 1929 phân hóa bất thành mà người sáng lập cũng không can dự! Tôi sợ cái sáng lập khống lắm.

     Với tư cách một người giúp việc cho phái bộ Bôrôđin, Lý Thụy chỉ có chỗ dựa trong thời gian Bôrôđin còn ở Quảng Châu. Bôrôđin rời Quảng Châu là Lý Thụy hết việc. Vậy thì, lấy gì để coi ông ta là ủy viên phương Đông bộ của Quốc tế cộng sản. Và, một điều nên lưu ý là một ủy viên phương Đông bộ của Quốc tế cộng sản mà chỉ dự một kỳ đại hội lần thứ V còn đại hội IV, đại hội VI, đại hội VII lại đứng ngoài nhìn!
  
      Một câu hỏi lịch sử phải trả lời là Hồ Chí Minh là ai? Nguyễn Ái Quốc là ai? Hai người này chắc chắn không phải là một.

       Nguyễn Ái Quốc xuất hiện lần đầu trong bản Thỉnh nguyện thư gửi Hòa hội Véc xây là Patriot Nguyen. Như vậy Nguyễn Ái Quốc này chỉ mang tính đại diện cho nhóm nhân sĩ trí thức Việt Nam yêu nước đang có mặt tại Pháp. Đó là Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh. Vài năm sau, Nguyễn Thế Truyền còn viết một số bài trên báo Người Cùng Khổ vẫn để bút danh mang tính đại diện đó. Có thể coi Nguyễn Ái Quốc trong khoảng thời gian 1919-1925 là của chung không phải riêng ai.

       Năm 1924, Nguyễn Tất Thành về Quảng Châu với phái bộ Bôrôđin, bị xa lạ trước những thanh niên Việt Nam sang Quảng Châu theo các tuyến đường mà Phan Bội Châu và cộng sự của ông lập nên. Những tuyến đường đó là:

1. Vinh-Thanh Hóa-Nam Định-Thái Bình-Quảng Yên-Mông Cái-Mũi Ngọc-Đông Hưng.
2. Sài Gòn-Hương Cảng.
3. Vinh – Phì Chịt – Băng Cốc – Hương Cảng.

     Xa lạ là khó tin. Cho dù Lý Thụy là người Nghệ yêu nước và hoạt động cứu nước đến mức nào, nhưng không nằm trong sự lựa chọn, gửi gắm  từ cơ sở đều khó có thể gia nhập hội. Bởi mỗi tuyến có người tuyển chọn, có sự đảm bảo đủ độ tin cậy riêng từ cơ sở. Lý Thụy không thuộc tuyến nào cả.

      Trong tình thế đó, Lý Thụy tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc để Phan Bội Châu nể và khoe mà dọa các thành viên khác của ông. Phan Bội Châu nhầm và tưởng đó là Nguyễn Ái Quốc thật, người mà ông đã hâm mộ qua một số bài viết với bút danh Nguyễn Ái Quốc. Tạm coi đây là Nguyễn Ái Quốc do Nguyễn Tất Thành – Lý Thụy mạo nhận.

      Sau ngày bị Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong tẩy chay không cho Tống Vân Sơ tham dự Đại hội lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chúc tại Ma Cao (1935), Tống Vân Sơ lại sang Nga lảng vãng quanh hội trường Đại hội lần thứ VII của Quốc tế cộng sản họp tại mạc Tư Khoa (25/7-25/8/1935) và bị Staline bắt đày ra Xibiari.

      Năm 1939 có một hiện tượng trùng lặp trong tư liệu chữ viết là Hồ Quang (một bí danh của Hồ Chí Minh) và Hồ Học Lãm (1884-1943), người Nghệ làm lính rồi làm quan của Tưởng Giới Thạch cùng về Hoa Nam.

      Hồ Quang đội lốt Nguyễn Ái Quốc nhập Pắc Bó trở thành Hồ Chí Minh.

      Như vậy là có ba dạng Nguyễn Ái Quốc.
1.   Nguyễn Ái Quốc đại diện tập thể (1919-1925)
2.   Nguyễn Ái Quốc mạo nhận (1925-1931)
3.   Nguyễn Ái Quốc đội lốt (1931-1969)

     Từ đó tôi nghĩ rằng: Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc – Nguyễn Sinh Cung ba không phải là một. Có lẽ Nguyễn Tất Thành bị kết thúc đời hoạt động cách mạng của mình ngay sau phong trào “Xô viết Nghệ Tĩnh” (1930-1931) bị khủng bố khi mà tiếng tăm Nguyễn Ái Quốc cùng với đảng Cộng sản Đông Dương đã gây nên dấu ấn mới mẻ có khả năng thay các thế hệ đi trước. Người tinh khôn đón được rằng Việt Nam không còn Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh thì Nguyễn Ái Quốc thế nào cũng nắm đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng Cộng sản Đông Dương thế tất sẽ leo lên cái giàn chống Pháp mà người Việt đã tạo dựng trên đất Việt như một thứ trước bạ kể từ năm 1858 tại Đà Nẵng. Thay thế Nguyễn Ái Quốc của họ vào vị thế Nguyễn Ái Quốc của Nguyễn Tất Thành là có trong tay cái giàn Việt trọn vẹn. Năm 1931, chậm lắm là năm 1932 Tống Vân Sơ thay thế Nguyễn Ái Quốc từ toan tính đó. Bởi tại thời điểm này, tên tuổi Nguyễn Ái Quốc đã gieo được vào dư luận Việt Nam mà mặt thật của ông ta thì không mấy ai nhận rõ. Có chăng, một vài người Việt từ trong nước lén lút sang Quảng Châu thì chân ướt chân ráo giữa buổi nhập nhèm tranh tối, tranh sáng sau các sự kiện Phạm Hồng Thái giết hụt toàn quyền Đông Dương và Phan Bội Châu bị bắt, khó mà nhìn được mặt nhau. Tống Vân Sơ, Vương, Lý Thụy, Trần, Trần Lực, Hồ Quang, T. Lan. T. L … chưa ai lắm tên như thế cũng chính là một kiểu tung hỏa mù làm quan trọng hóa nhân vật Nguyễn Ái Quốc giả cho mau thành thật nhanh chóng xóa mọi bở ngỡ hoài nghi. Tống Vân Sơ nghiễm nhiên thay thế Nguyễn Ái Quốc để trở thành Hồ Chí Minh, “cha già” dân tộc không gây nên bất cứ trục trặc nào.

Lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đang tôn thờ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh nhưng cả hai thần tượng trên thì một đã bị bắt, một đã tạ thế. Tống Vân Sơ mà mọi người tin là Nguyễn Ái Quốc như là hiện thân của hai đấng cứu nước trên trở thành mục tiêu tập hợp.

Thế là những người cộng sản Việt mang trọn cái giàn chống ngoại xâm cứu nước có sẵn giao cho Tống Vân Sơ. Người Tàu qua Tống Vân Sơ - Hồ Chí Minh nắm gáy những người cộng sản Việt. Người cộng sản Việt đã có sẵn trong tay cái giàn cứu nước đẩy toàn dân lao vào lò lửa chiến tranh, làm lính đánh thuê cho Tàu. Tàu đứng ngoài cổ vũ, bố thí súng đạn và lương khô. Chiến công càng lớn. Con em chết trận càng nhiều. Sinh lực Việt mỗi ngày mỗi kiệt quệ trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn càng oanh liệt Tàu càng hài lòng khích lệ. Chu Ân Lai ép Phạm Văn Đồng ký Hiệp định đình chiến Geneve (21/7/19540) chia đôi đất nước, rồi lại xui Việt cộng thẩy hết thanh niên ưu tú vào miền Nam gây chiến để miền Bắc, Tàu canh giữ cho.

     Không có Lê Duẩn, Lê Đức Thọ thì Hồ Chí Minh qua Chu Văn Tấn, khu Tự trị Việt Bắc và khu Tự trị Tây Bắc “thắm thiết tình Việt Trung” với khu Tự trị Choang, Quảng Tây không mấy trở ngại.

     Quảng Châu 86 năm trước là sân chung của nhân loại. Không dành riêng cho cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, có ta là có địch. Tứ xứ chẳng ai nhận ra ai trong trò chơi mèo chuột thuở đó. Thay người dễ như thay áo. Vì thế không đơn giản như các vị giáo sư vẽ nên chân dung một người xa lạ từ đâu nhảy tới là đứng ra thành lập ngay tổ chức cách mạng chống Pháp ngang nhiên như mua bán giữa chợ trời. 

     Nhìn ba tấm ảnh tư liệu Nguyễn Ái Quốc, Tống Vân Sơ, Hồ Chí Minh xin mọi người chú ý vành tai phải của Nguyễn Ái Quốc khác hẳn vành tai phải của Tồng Vân Sơ, Hồ Chí Minh.  Ấy là lẽ tạo hóa không để bọn bất lương bịt hết mắt thiên hạ rồi muốn làm gì thì làm. Thâm Nho mấy vẫn có sơ suất. Ấy là lẽ đời.

    Điều đáng sợ là người biết cố tình không biết.

     Năm 1969 Hồ Chí Minh chết nếu đúng tuổi là 77 hoặc như khai gian là 79. Nhưng nhìn thẳng vào dung nhan ngoài đời của ông ta lúc đó, tôi nghĩ phải trên 80 – 85. Khai thêm tuổi là sợ mình già trước tuổi chăng? Mặt khác tôi còn nghĩ Hồ Chí Minh không phải là Lý Thụy nên né tránh những ai đã từng có mặt ở Quảng Châu trước năm 1930. Nhiều người già ở quê tôi nghi ông ta là Hồ Học Lãm, hậu duệ của Thái thú Hồ Hưng Dật được Tầu nhồi nặn phục hưng tiếp tục sứ mệnh bành trướng đại Hán. 5 tháng vào Pắc Bó (1941) nắm được gáy Việt Nam, thì về Tàu ngay năm đó. Hai năm sau Hồ Học Lãm “chết” (1943) mãi đến cuối năm 1944 Hồ Chí Minh trở lại Pắc Bó dấn thân vào sự nghiệp cao cả: Lái con tuyền cách mạng Việt Nam lao vào chiến tranh “cứu nước” cho Tàu. Nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc thật thì không đời nào Tưởng Giới thạch lại cho diễu bên đó những ba năm.

        “Ngục trung nhật ký” có lẽ cũng giống như báo Thanh Niên và sách Đường Kách Mệnh... rất đáng nghi là tư liệu người ta chuẩn bị gây niềm tin, uy tín cho Hồ Chí Minh để ông ta củng cố vị thế “cha già dân tộc” của mình!

        Xin mọi người một lần nữa hãy nhìn vào thế thái nhân tình nước ta hiện thời, nhìn vào sự mất mát của Dân tộc ta kể từ ngày có Hồ Chí Minh, rồi nhìn ra chung quanh xem các nước láng diềng trước và sau năm 1945. trước và sau năm 1975 thì mới nhận ra “công lao vĩ đại của Bác”

      Điều cần thiết lúc này là trả lại vị thế đảng nằm trong lòng Dân tộc chứ không phải Dân tộc nằm trong lòng đảng để mọi người Việt Nam gạt bỏ định kiến trong hay ngoài, đảng này hay đảng nọ, cùng nhìn rõ mưu ma chước quỷ của Tàu, tỉnh táo chung sức, chung lòng đặt lợi ích Dân tộc, Tổ quốc lên trên hết thì may ra còn có cơ cứu nước.  
                                                                                    
Thử nhìn lại phía sau lời hô hào " Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết" của Hồ Chí Minh


     Hồ Chí Minh bổng dưng xuất hiện trong hang Cốc Lếu, bản Pắc Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, sát biên giới Việt Trung mà trước đó dường như chưa ai biết gì về người mang cái tên lạ hoắc này. Nếu ông ta đích thực là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc “sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước trở về” như người ta tâng bốc, thì tại sao lại không do những người của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội hoặc cơ sở của tổ chức đó dẫn về mà lại vòng lên Vân Nam để nhờ một người Quảng Trị tên là Trịnh Đông Hải, làm thợ sửa chữa xe ở dọc đường Mông Tự – Xì Xuyên đưa vào hang Cốc Lếu ? Tại sao lại không do những người cộng sản đã từng là “đồng chí” cùng có mặt ở Quảng Châu, Ma Cao, Hương Cảng, Mạc Tư Khoa, nghĩa là những người ít nhất một lần gặp Lý Thụy, đón mà lại là Đặng Xuân Khu, Hạ Bá Cang? Hồ Chí Minh là gì ở thời điểm trước ngày 28 tháng 01 năm 1941 và quan hệ với những ai thuộc đảng cộng sản Đông Dương để được toàn quyền triệu tập và chủ trì hội nghị Pắc Bó, tháng 5 năm 1941.Nguyên tắc đảng ở đâu! Chỉ thế thôi. Nếu không vì đạo diễn, không vì áp lực, không vì a dua thì khó có thể ra đời một hội nghị trung ương chẳng có ai trước đó đã chính thức hoặc được bàn giao thừa kế là trung ương.

     Không nói chuyện thời xa xưa mà kể từ khi có đảng cộng sản trên đất Việt Nam, việc giữ bí mật của một hội kín, nhất là để chống Pháp đã trở thành lẽ sống còn. Phan Bội Châu sang Nhật, Pháp theo sang gây sự. Phan Bội Châu về Trung Quốc Pháp bỏ tiền, rải người lập mưu bắt. Ngô Gia Tự, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ … thận trọng, kín đáo hết sức vẫn sa lưới. Nhiều mẻ lưới xét cho thấu là có nội gián. Điều đó dạy cho mọi người hoạt động chống Pháp luôn luôn đề phòng. Và chính điều đó cũng làm cho mọi người Việt Nam khi bình tâm rồi mới nghĩ ra rằng hoạt động bí mật chống Pháp không thể dễ dải, đơn giản như vậy! Một người tự cho mình sáng lập, huấn luyện Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đồng thời lựa chọn những thành viên xuất sắc gửi sang Nga đào tạo... mà nhóm năm Thanh niên Việt Nam thuộc tổ chức đó đang học tại trường Đại học Phương Đông Mạc Tư khoa (1929) lại không biết, không muốn tiếp “vị huấn luyện” mình (?). Khi miễn cưỡng tiếp thì chỉ gặp xã giao ngoài cửa trường, dứt khoát không cho vào Ký túc xá và không tiếp lần thứ hai. Vì sao vậy ? Một người tự cho mình là sáng lập đảng Cộng sản Đông Dương, là ủy viên Đông Phương bộ của Quốc tế Cộng sản, mà Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập tẩy chay không cho tham dự Đại hội đảng lần thứ I họp tại Ma Cao năm 1935. Có nghĩa là không được bầu làm đại biểu cộng sản Việt Nam tham dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản (1935). Một người tự cho mình là đại diện của Quốc tế Cộng sản, tại sao lại bị Stalin bắt giam rồi đày ra Xibiari?

     Những điều như thế đủ nói rằng Lý Thụy – Tống Vân Sơ chẳng có vai vế gì ở tổ chức quốc tế này. Lảng vảng, dòm ngó quanh những địa chỉ mà mật thám Pháp thuở đó quan tâm gợi lên cho người ta nhận thấy hành vi của một thám tử quốc tế hơn là một nhà hoạt động chính trị.

     Một người như thế lấy tư cách gì để đứng ra triệu tập, rồi chủ trì hội nghị Pắc Bó tháng 5 năm 1941 chỉ có dăm bảy người tham dự. Kể cũng lạ và cũng đáng nghi. Tại sao khi Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt vượt qua biên giới Việt Trung sang Tàu để vòng về Pắc Bó tổ chức hội nghị đó, thì Xứ ủy Bắc Kỳ lại triệu tập Hội nghị bất thường mở rộng tại Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, phê phán tính vô nguyên tắc và tẩy chay hội nghị Pắc Bó? Tại sao một người trung kiên như Chu Huệ (bạn Trương Văn Lĩnh) vượt ngục Đắc Min để ra tù hoạt động cách mạng thì cải cách ruộng đất lại bị vu rồi xử bắn mà một người như Bùi San dự hội nghị Pắc Bó, trên đường về bị Pháp bắt cung khai đầy đủ với Pháp lại vẫn được trọng dụng?

     Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương do Hội nghị lần thứ 6 của ban Thường vụ Trung ương đảng Cộng sản Đông Dương chính thức tuyên bố thành lập tháng 11 năm 1939, tại Bà Điểm là sản phẩm tập thể, Hồ Chí Minh lấy tư cách gì xóa bỏ để thay Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh do Hồ Học Lãm thành lập tại Nam Kinh (Trung quốc) trước đó 5 năm (1936).

    Tình hình nước ta ở thời điểm 1939 – 1945 mục tiêu cấp bách là “phản đế” hay “đồng minh”? “Đồng minh” với ai?  Tàu Tưởng hay Tàu cộng?

     Phần nhiều những người tham gia Hội nghị lần thứ 6 của Ban Thường vụ Trung ương đảng Cộng sản bị Pháp bắt, một số bị xử bắn hoặc bị đày ra Côn Đảo chịu án cấm cố, có liên quan gì với sự xuất hiện đột ngột, bất ngờ của nhóm Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Chí Minh, tại Pắc Bó tháng 5 năm 1941. Ai đứng đàng sau, manh mối, đạo diễn hội nghị này?

    Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt là những học sinh bỏ học tham gia biểu tình đòi thả Phan Bội Chấu (1925), rồi tham gia hoạt động chống Pháp ở Bắc Kỳ, bị Pháp bắt giam tại nhà tù Sơn La, trước đó chưa hề biết Quảng Châu, có nghĩa là chưa một lần giao tiếp với Hồ Chí Minh ở bất cứ đâu. Vậy tại sao lại là những người được Hồ Chí Minh tin cậy và tin cậy Hồ Chí Minh. Chỉ thế thôi, hàng ngũ những người cộng sản Việt Nam tức khắc bị phân liệt. Trước hết là Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt với xứ ủy Bắc Kỳ. Kế đến là Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt với  những người cọng sản Nam Kỳ, và mở rộng dần ra giữa những người cọng sản từng bị giam cầm ở nhà tù Sơn La với những người cộng sản bị Pháp bắt giam ở các nhà tù khác như Hỏa Lò, Buôn Ma Thuột, Côn Đảo.

    Hội nghị tháng 5 năm 1941 được gán là hội nghị lần thứ 8 của ban Thường vụ trung ương có xứng đáng đại diện toàn đảng cộng sản Đông Dương không? Tại sao từ đó gây nên nạn phân liệt? Trường hợp điển hình cụ thể là Võ Xán, một người yêu nước chân chính, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, quê ở huyện Bình Khê, bị Pháp bắt đày lên nhà tù Sơn La, ra tù đã tổ chức cướp chính quyền ở Bình Định lại bị nhóm cộng sản nhà tù Buôn Ma Thuột đứng đầu là Nguyễn Văn, Ngô Đức Mậu giết tại Bống Sơn vì cho rằng ông ta là Việt Minh giả của Trường Chinh (cùng tù Sơn La). Võ Xán uất quá lao đầu vào bụi tre, sau khi chết đầu bị kẹp chắt, không lôi xác ra được!

    Một điều tưởng cũng nên nhắc lại là tại sao hội nghị Đình Bảng cuối năm 1940 do Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt chủ trì đã có lúc gọi là hội nghị lần thứ 7 nhưng về sau lại không được thừa nhận. Như vậy là mấy người trên chưa đủ tư cách thay thế Ban Thường vụ của Hội nghị lần thứ 6 (11/1939) thì cũng có nghĩa là chưa đủ tư cách làm nên hội nghị lần thứ 8 tại hang Cốc Lếu, bản Pắc Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, tháng 5 năm 1941.

       Pháp đại bại. Nhật thất thế. Nội các Trần Trọng Kim được thành lập sẽ là bước chuyển giao quyền lực ôn hòa vừa giành độc lập dân tộc vừa tránh đổ máu do một cuộc nội chiến hoặc ngoại xâm gây nên. Nếu Hồ Chí Minh, Trường Chinh thực lòng vì quyền lợi và sinh mệnh tối cao của dân tộc thì đã hợp tác với chính phủ đó. Tàu sợ một chính phủ thân Nhật. Hồ Chí Minh, Trường Chinh cũng sợ một chính phủ thân Nhật. Vì sao Hồ Chí Minh vu cáo Chính phủ Trần Trọng Kim là bù nhìn thân Nhật, lại ra sức lôi kéo các thành viên của Nội các đó làm trang sức cho chính của phủ mình? Từ đây mọi người Việt Nam nên nhìn cho rõ khẩu hiệu “Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết” của Hồ Chí Minh với việc làm cụ thể của ông ta! Nếu là một người yêu nước chân chính biết đặt lợi ích tối cao của dân tộc lên trên hết thì đã đoàn kết với chính phủ đang ra sức thực thi quyền độc lập thực sự cho đất nước mình! 

      Mong mọi người hãy nhìn vào các thành viên Nội các Trần Trọng Kim đã được nhà vua Bảo Đại phê chuẩn, có nghĩa là danh chính ngôn thuận trước công luận trong và ngoài nước gồm:
Mong mọi người hãy nhìn vào các thành viên Nội các Trần Trọng Kim đã được nhà vua Bảo Đại phê chuẩn, có nghĩa là danh chính ngôn thuận trước công luận trong và ngoài nước gồm:

  1. Trần Trọng Kim, Học giả, Thủ tướng
  2. Trần Văn Chương, Luật sư, Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
  3. Trần Đình Nam, Y sĩ, Bộ trưởng Nội vụ.
  4. Trịnh Đình Thảo, Luật sư, Bộ trưởng Tư pháp.
  5. Hoàng Xuân Hãn, Thạc sĩ toán, Bộ trưởng Giáo dục và Kỷ nghệ.
  6. Vũ Văn Hiền, Luật sư, Bộ trưởng Tài chính.
  7. Phan Anh, Luật sư, Bộ trưởng Thanh niên.
  8. Lưu Văn Lang, Kỷ sư, Bộ trưởng Công chính.
  9. Vũ Ngọc Anh, Bác sĩ, Bộ trưởng Y tế.
  10. Hồ Tá Khanh, Bác sĩ, Bộ trưởng Kinh tế.
  11. Nguyễn Hữu Thi, Y sĩ, Bộ trưởng Tiếp tế.

      Ngoài Nội các trên, Chính phủ Trần Trọng Kim còn bổ nhiệm Phan Kế Toại làm Khâm sai Bắc Bộ, Nguyễn Văn Sâm, Khâm sai Nam Bộ, Trần Văn Lai, Đốc lý Hà Nội, Đặng Văn Hướng, Tổng đốc Nghệ An, Kha Vạng Kân, Đô trưởng Sài Gòn.

      Dưới con mắt năm châu, một Nội các toàn là những danh nhân trí thức tên tuổi lại được nhà vua của một Vương triều thuộc một dòng họ đã làm nên xứ Đàng Trong lại làm nên Quốc hiệu Việt Nam thống nhất phê chuẩn là hợp hiến, đủ tư cách pháp lý bang giao với nhân loại.

       Nội các Trần Trọng Kim với những thành viên đó đủ tỉnh táo giành và giữ được nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải lại tránh cho dân tộc mình không rơi vào cuộc chiến tranh máu lửa.

      Thật đáng tiếc!

Nguyễn Gia Định

Hồ Chí Minh – Ông là Ai ? (bài 3 - b)

PHẦN BA :  Những sự kiện và các nhân chứngđương thời với Hồ Chí Minh  (tiếp theo)

Nạn đói đang hoành hành, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi tuần lễ vàng để “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”. Toàn dân nô nức hưởng ứng. Rất tiếc! số vàng đồ sộ mà ông ta thu được không dành một phần nào để mua gạo, mua sách vở giấy bút mà giao hết cho Tàu! Để mua chức chủ tịch nước hay để thực thi bổn phận?

    Toàn bộ thư tịch cổ (ngoại trừ thư viện của trường Viễn Đông Bác Cổ) đều bị thiêu đốt, hủy bỏ hoặc dùng lót đường chống lầy hoặc chuyển sang Cầu Đuống tái chế theo lệnh ông ta.

     Hành vi đó không khác gì những việc mà quân Minh đã làm đầu thế kỷ XV.

    Giành được chính quyền rồi, phá được chính phủ Trần Trọng Kim rồi,  Hồ Chí Minh chưa yên tâm, bởi còn sợ thế lực và lòng dân ủng hộ một chính phủ liên hiệp có Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam nên đã sai Lê Giản, giám đốc công an tìm kiếm vài ba xác người xấu số chết đói ngoài đường lén chôn vào vườn văn phòng của Việt Nam Quốc Dân đảng ở đường Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội) rồi bù lu, bù loa lên là Quốc Dân đảng thủ tiêu cán bộ Việt Minh để đánh lừa dư luận, đánh lừa cả Phó Chủ tịch nước lúc đó là Huỳnh Thúc Kháng đang giữ thế trung lập ngả hẳn về phía Hồ Chí Mình, giúp Hồ Chí Minh loại bỏ Nguyễn Hải Thần, một yếu nhân trung thành của Phan Bội Châu!

     Huỳnh Thúc Kháng nhận ra sự thật, uất quá tìm cách ly khai chính phủ Hồ Chí Minh về Quảng Ngãi chết. Núi Ấn sông Trà mãi mãi lưu giữ bóng dáng, khí phách của một sĩ phu đất Quảng.

     Hồ Chí Minh vừa hô to “Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết! Thì ngay lập tức, người Tàu tặng người ta bài hát kết đoàn. “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh. Kết đoàn chúng ta là sắt gang. Đoàn kết ta đoàn kết. Dù sắt hay là gang...”

     Tiền hô, hậu ủng. Vì sao mà kịp thời đến vậy?

     Lấy tư cách chủ tịch nước, Hồ Chí Minh mời Tạ Thu Thâu (con một người thợ mộc Nam Bộ, có lòng yêu nước cao cả và đã từng du học tại Pháp, nghĩa là người vừa có năng lực vừa có uy tín) ra Hà Nội nói là để lập mặt trận liên minh kháng chiến chống Pháp. Tạ Thu Thâu thành tâm ra Hà Nội tham gia thành lập mặt trận chống Pháp xong, trên đường trở về đến Quảng Ngãi thì bị giết. Tại thời điểm đó, ngoài Hồ Chí Minh ai biết Tạ Thu Thâu đi xe gì và ngày giờ rời Hà Nội về nam! Tại thời điểm đó, ngoài chủ tịch nước, ai có quyền ra lệnh ngầm cho Quảng Ngãi giết Tạ Thu Thâu không cần xét xử?  Xin mọi người biết cho rằng Tạ Thu Thâu tuy thuộc nhóm Đệ tứ nhưng lại là một trong những người sáng lập tờ báo La Lute và là bạn của Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Lựu, Nguyễn Văn Cừ. Phan Đăng Lưu...

    Cuối năm 1945, Pháp dựa vào quân Anh quay trở lại xâm lược nước ta, nhân dân Nam Bộ đồng loạt đứng lên chống Pháp (23/11/1945). Đội ngũ trí thức yêu nước, có học, gắn bó mật thiết với Nam Bộ và được nhân dân Nam Bộ tin cậy như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch, Ung Văn Khiêm. Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Trấn...bị Hồ Chí Minh điều hết ra Bắc rồi vô hiệu hóa họ tại chiến khu Thái - Hà - Tuyên. Nam Bộ như rắn mất đầu. 

    Để tỏ ra quan tâm Nam Bộ, chủ tịch nước cử Trung tướng Nguyễn Bình vào thay thế. Tuy là một vị chỉ huy có tài, nhưng Nguyễn Bình làm sao mà thấu hiểu Nam Bộ và được Nam Bộ tin yêu như nhóm Trần Văn Giàu. Nguyễn Bình vào đến nơi còn lạ nước lạ cái , thì bị ám sát! Ai đứng đằng sau vụ giết vị tướng lừng danh, đã từng có mặt ở  Hoa Nam, Trung Quốc này!

     Nguyễn Bình chết, Nam Bộ thiếu cán bộ quân sự, nhiều ý kiến đề xuất cử Võ Nguyên Giáp vào trực tiếp chỉ huy chiến trường Nam Bộ, Hồ Chí Minh sợ mất chổ dựa tin cậy vội phong hàm Đại tướng và giao quyền Tổng Tư lệnh tối cao cho ông. Đã là Đại tướng Tổng Tư lệnh, mặc nhiên là phải có chỗ đứng ở Trung ương bên cạnh Chủ tịch nước. Võ Nguyên Giáp không thể đi xa, nên Lê Đức Thọ buộc phải rời miền Bắc vào miền Nam (1948). Vậy là Hồ Chí Minh vừa giữ được người của mình, lại loại được người đối lập. Mâu thuẩn giữa Lê Đức Thọ với Võ Nguyên Giáp cũng có nghĩa là với Hồ Chí Minh, được Lê Đức Thọ mang vào Nam Bộ báo với Lê Duẩn (từ nhà tù Côn Đảo ra ở lại lãnh đạo Nam Bộ).

    Lê Duẩn là một trong những người có mặt tại Hội nghị lần thứ 6 của Ban Thường vụ Trung ương đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 11 năm 1939, nên gắn bó mật thiết với Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Phan Đăng Lưu. Nghĩa là người đã biết rõ Hồ Chí Minh là ai!

    Vì công cuộc kháng chiến chống Pháp quá cấp thiết, bức xúc nên người ta đành gác mọi toan tính bất đồng, hoài nghi chưa thể phân định. Lê Duẩn, Lê Đức Thọ cùng những người cộng sản dân tộc rõ ràng đã đứng về một phía không dung hòa với phe “thế giới đại đồng” của Đại Hán mà Hồ Chí Minh là con sóc đầu đàn.

     “Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết” và di họa của nó còn thể hiện hầu như toàn diện trên mọi mặt sinh hoạt của xã hội Việt Nam từ ngày Hô Chí Minh cao giọng hô hào. Cái gọi là phong trào thi đua ái quốc đã để di chứng dối trá, bịp bợm phổ biến. Bệnh thành tích trở nên mãn tính làm xói mòn nhân cách, đạo đức, để lại sự tan nát thế thái nhân tình trên toàn xã hội. Tranh công, khai man đã làm nên thành ngữ “làm thì láo báo cáo thì hay” lan tràn khắp hang cùng ngõ hẽm.

    Tiếp theo phong trào “thi đua yêu nước” thì đến phong trào hợp tự chống mê tín dị đoan, hô hào phá bỏ đình, chùa, đền, miếu...Dân ta vốn nhẹ dạ, cả tin tưởng những di sản văn hóa truyền thống của cha ông mình là lạc hậu, nghe lời “Bác” để mau chóng xây dựng thế giới đại đồng. Hậu quả phá bỏ được các di sản văn hóa vật chất cũng có nghĩa là phá bỏ luôn di sản văn hóa tinh thần. Điều này mới thực sự “thâm Nho” đã làm nên đại họa. Đình không còn, tình làng nghĩa nước cứ thế mà tan. Chùa không còn niềm tin hướng thiện cứ thế mà mất. Xã hội rối ren. Trộm cắp lộng hành. Xì ke ma túy tràn lan. Đĩ điếm trở thành vấn nạn. Sau ngày Pháp rút quân, những vùng gọi là hậu địch, tạm chiếm rất may là các đền chùa đình miếu còn nguyên vẹn. Người Pháp không tàn bạo như Hồ Chí Minh. Di sản văn hóa dân tộc cho ta tự hào hôm nay, rất may là trước năm 1956, đều nằm trong vùng người Pháp và quân đội Việt Nam Cộng Hòa quản lý!

    Sau chủ trương hợp tự phá đền chùa, chia nhập làng xã để xóa sạch mọi di sản truyền thống thì phát động cải cách ruộng đất. Đồng thời với lời hô hào “Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết!” Hồ Chí Minh lại tung thêm khẩu hiệu “Có khổ nói khổ. Nông dân vùng lên”. Vậy là vừa hô hào đoàn kết vừa hô hào chém giết? Hậu quả của nó thì mọi người đã rõ.  Cuộc đấu tố đại quy mô mang tính toàn quốc này thực sự là tổng hủy diệt cộng đồng dân tộc. Con đấu cha, vợ đấu chồng, em đấu anh, cháu đấu bác, học trò đấu tố xỉ vả thầy cô...đều xẩy ra từ sau lời hô hào đoàn kết đó.
 ...

    Thời gian này (1953 – 1956) bộ máy tuyên truyền của Hồ Chí Minh ngày ngày ra rả và bắt toàn dân ra rả ca khúc “Nông dân Trung Quốc đang ngăn sông Hoài. Đời ta ấm no sướng vui từ đây. Vì chúng ta có đảng cộng sản. Vì chúng ta có bác Mao Trạch Đông. Đã lãnh đạo ta phóng tay phát động...”

     Mù quáng, quá khích vốn là thuộc tính của người nghèo khổ, ít học, bị Hồ Chí Minh lợi dụng kích động đã làm nên cuộc thảm sát tàn bạo nhất trong lịch sử đất nước con Lạc cháu Hồng ngàn đời. “Phóng tay phát động” là dã tâm làm đảo điên thế thái nhân tình tài nguyên thiêng liêng nhất của dân tộc.

     Thù hận trong dân chúng sục sôi, làng xóm xơ xác tiêu điều, tình anh nghĩa em tan nát, Hồ Chí Minh lại hô hào tết trồng cây để vá víu. Qua đại họa này mong mọi người nhìn cho rõ chân tướng Hồ Chí Minh chính là kẻ vừa đấm vừa xoa. Xoa thật êm để đấm tiếp. Tết trồng cây mà ông ta hô hào nằm trong tâm địa đó. 

     “Vì lợi ích mười năm trồng cây.
     Vì lơi ích trăm năm trồng người”

     Ai cũng tưởng danh ngôn trên là xuất phát từ tấm lòng cao cả “tại tâm” nên mê muội ngợi ca. Thật ra điều đó lại thêm một vết nhơ về tội đánh cắp vô liêm sĩ. Nguồn gốc là của Quản Trọng bên Tàu, từ thời chiến quốc. Nguyên văn như sau:

         “Nhất niên chi kế. Mạc như thụ cốc.
         Thập niên chi kế. Mạc như thụ mộc.
         Bách niên chi kế. Mạc như thụ nhân.”

    ( Mưu kế cho một năm thì phải trồng lúa.
     Mưu kế cho mười năm thì phải trồng cây.
     Mưu kế cho trăm năm thì phải trồng người.)

     Hồ Chí Minh cắt bỏ một câu để giấu đầu làm ra vẻ sáng tạo. Nhưng ăn cắp thì lòi đuôi liền. Điều mà người viết muốn láy lại là Hồ Chí Minh bị bệnh mất tính liêm sĩ nên không biết thẹn. Ăn cắp tên Nguyễn Ái Quốc của nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh. Ăn cắp quyền tác giả bản “Thỉnh nguyện thư gửi Hòa hội Vecxây cũng của nhóm này. Ăn cắp Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh của Hồ Học Lãm. Ghép thơ Lý Bạch với thơ Đỗ Phủ làm thơ mình... Lạ thay! Hạng người như thế lại luôn luôn ngạo mạn. Về Pắc Bó chưa đứng yên trong hang đã ba hoa “Hai tay gây dựng một sơn hà”. Moi danh ngôn Quản Trọng để lừa người nhẹ dạ. Xuống Kiếp Bạc thì sánh mình với Hưng Đạo Đại Vương.

                   Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng
                   Cũng bậc mày râu cũng kiếm cung
                   Bác đuổi quân Nguyên vung kiếm bạc.
                   Tôi trừ giặc Pháp phất cờ hồng.
                   Bác đưa một nước qua nô lệ.
                   Tôi dắt năm châu đến đại đồng.
                   …

    “Tôi dắt năm châu đến đại đồng”. Người Việt Nam ta có tục ngữ “Xấu thì hay làm tốt. Dốt thì hay nói chữ”. Hồ Chí Minh, chỉ là một tay sai của Tàu lại  khoác lác “dắt năm châu”. Thì ra nói để khoe, để dọa mà thực tâm là che kín miếng võ “Tớ dắt An Nam nhập tịch Tàu”.

     Để dắt “năm châu đến đại đồng” Hồ Chí Minh đã đạo diễn và ra lệnh thành lập các khu tự trị Tây Bắc và Việt Bắc. May thay Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và những người cộng sản dân tộc, qua Đại hội lần thứ III (1960) của đảng đã nhận ra nguy cơ mất nước khi bên Tàu đã lập khu trự trị Choang sát biên giới Trung Việt.

     Như mọi người biết người Choang, người Tày - Nùng và người Thái cùng chung ngữ hệ, có nghĩa là rất thuận khi cùng chung lãnh thổ.

     Nhân đây xin nói thêm một luồng dư luận từ sau cải cách ruộng đất rằng Hồ Chí Minh có lẽ là Hồ Học Lãm, người của Tàu. Tàu Tưởng hay Tàu cộng thì người ta không rõ. Bởi người Tàu đối lập nhau về chính kiến nhưng thống nhất về chủ nghĩa bá quyền. Hồ Học Lãm chỉ hơn Hồ Chí Minh 6 tuổi, chính là người đã thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) tại Nam Kinh, năm 1936.

     Hồ Chí Minh chết, Lê Duẩn sợ bẩn non sông không thực hiện di chúc đốt xác vãi tro lên đất đai nước Việt mà cho mổ ruột moi gan nghĩa là phanh thây giữa thanh thiên bạch nhật để thiên hạ nhìn như là một hình phạt bêu đầu thuở trước. Tuy nhiên, ông ta cũng đã để lại cho Nông Thị Trưng một đứa con khai sinh theo họ mẹ tiếp tục thực hiện mười sáu chữ vàng : “Láng diềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai”. Những người cầm quyền dưới sự điều khiển của Nông Đức Mạnh, trung thành với mẫu quốc đã thực hiện triệt để. “Hợp tác toàn diện” là giao rừng đầu nguồn, nơi đã từng là hậu cứ an toàn cho dân ta thế thủ mỗi lần Tàu ồ ạt tràn sang, ta chưa thể tổ chức đánh đuổi chúng. “Ốn định lâu dài” là giao các vùng chiến lược cốt tử nhất của đất nước cho họ lập làng bền vững tổ thành đội xâm lược nằm vùng. “Hướng tới tương lai” là nước ta sẽ trở thành quận huyện của chúng.

    Nhìn lại giai đoạn lịch sử sau ngày Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và những người cộng sản dân tộc chân chính qua đời, các thế hệ cầm quyền thuộc dòng Hồ Chí Minh, Trường Chinh chuẩn bị, đang ra sức thực hiện nhiều chữ vàng để biến nước ta thành “nam tạng” theo tinh thần bốn tốt: “Láng diềng tốt. Bạn bè tốt. Đồng chí tốt. Đối tác tốt”. Vâng! Người Tàu đang thực hiện vượt mức bốn tốt và còn có thể nhiều thứ tốt hơn. Nhà cầm quyền người Việt vốn mang ơn che chở cưu mang đùm bọc của Tàu, sá chi rừng biển của Tổ quốc.

    Để kết thúc bài viết này xin mọi người đừng bao giờ quên thuộc hạ thân tín nhất của Hồ Chí Minh là Phạm Văn Đồng, là người đã cùng Chu Ân Lai ký Hiệp định Geneve, chia đôi đất nước xong lại tổ chức lực lượng vừa nằm vùng vừa vượt tuyến phá hoại Hiệp định đã ký để bày đủ mưu ma chước quỷ gây nên cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, biến nước ta thành bãi chiến trường có lợi cho Tàu, rồi hô hào chống ngoại xâm cứu nước. Ta đánh ta, cứu nước ta ra khỏi ảnh hưởng của Pháp và Mỹ để Tàu dễ bề thao túng và nuốt chửng ta.

    Đoàn kết! Đoàn kêt! Đại đoàn kết! Thế lực của Tàu đứng đầu là Hồ Chí Minh, lợi dụng tâm lý và khát vọng độc lập dân tộc nên hô hào dân ta ra sức “Đánh cho Mỹ cút. Đánh cho ngụy nhào”, kết hợp với xây dựng chủ nghĩa xã hội, một thứ bánh vẽ rất hấp dẫn dễ được nhiều người hưởng ứng, đã đưa hàng loạt con em miền Bắc vào lò “sát sinh” khủng khiếp.

    Càng đánh ta càng kiệt quệ, suy yếu và bị cô lập trước cộng đồng nhân loại làm mồi cho con gấu Thiên An Môn. Thực tế đó lẽ nào các thế hệ hôm nay không sáng mắt ra.

    Bất hạnh của dân tộc ta là những người yêu nước thương nòi nhận ra tai họa của nền chuyên chính vô sản và nạn diệt chủng trước dã tâm Đại Hán của Tàu, đã quy tụ chung quanh chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng thất thế ngay sau khi Nội các Trần Trọng Kim bị lật đổ, buộc phải liên minh với Pháp rồi Mỹ để cùng chống cộng – kẻ thù của nhân loại. Qua con mắt lịch sử và luận điệu tuyên truyền kích động của những người cộng sản với sự phụ họa của Tàu, họ mang tội là những kẻ ôm chân đế quốc.

      Sự ngộ nhận và lầm lẫn của nhân dân hai miền đã làm nên hậu họa bỏ bạn đón thù hôm nay.

         “Năm qua thắng lơi vẻ vang
         Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
         Vì độc lập vì tự do
         Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào.
         Tiến lên chiến sĩ đồng bào.
         Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn.
                                             Xuân 1968

      “Xum họp”, “đoàn kết” kiểu Hồ Chí Minh là vậy đó. Ngày Tết, nhè vào phút giao thừa thiêng liêng nhất của mỗi giá đình Việt Nam mà chém, mà giết một cách dã man tàn bao để lại nỗi đau cùng mối hận thù lâu dài nhất trong lịch sử đất nước.

       Khen chê một vị Tổng thống chiến bại của Việt Nam Cộng Hòa là quyền của mọi người. Riêng câu “Đừng nghe cộng sản nói. Hãy nhìn cộng sản làm” của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tôi nghĩ là chí lý. Hãy nhìn vào thế thái nhân tình của người Việt Nam từ sau ngày Hồ Chí Minh chủ trương hợp tự, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp... đến nay và nghiệm lai lời hô hào “Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết” của ông ta xem có phải nói một đường làm một nẻo hay không!

          “Đoàn kết chúng ta là sức mạnh. Đoàn kết chúng ta là sắt gang...”. Đúng như ca khúc người Tàu đặt ra cho ta hát để ta chịu sự hủy diệt của sắt gang đúng như Hồ Chí Minh viết :
       “Nay ở trong thờ nên có thép. Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.

     Toàn đảng toàn dân theo Hồ Chí Minh đoàn kết để theo Hồ Chí Minh “trở mỏ cắm cánh”hủy diệt dân tộc mình.

Suy nghĩ về Cứu Quốc Quân và cái chết của Phùng Chí Kiên

     Ngày 22 tháng 9 năm 1940, Nhật đánh vào Lạng Sơn. Quân Pháp đại bại. Một số tàn binh Pháp tháo chạy về ngả Bắc Sơn. Thấy có cơ hội trả thù quân cướp nước, ngày 27 tháng 9 người Bắc Sơn tự phát nổi dậy đánh Pháp và ùa lên chiếm đồn Mỏ Nhài. Vài ngày sau Pháp hòa hoãn với Nhật kéo quân lên Bắc Sơn khủng bố trả thù, lùng bắt những người khởi xướng. Trước tình thế đó, một số người né tránh chạy vào trường Vũ Lăng hợp thành lực lượng du kích để tự vệ. Xứ ủy Bắc Kỳ đảng cộng sản Đông Dương nhận thấy sự cần thiết duy trì và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng nên đã cử Trần Đăng Ninh lên chỉ đạo củng cố đội du kích Bắc Sơn. Vào thời điểm này, Trần Tử Bình, Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi vốn là những thành viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (có tài liệu lại gọi là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên), đã học trường quân sự Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn, về nước mở lớp quân chính tại một căn cứ bí mật thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Để giúp Trần Đăng Ninh duy trì đội du kích Bắc Sơn, trường quân chính kháng Nhật Bình Lục đã cử Vũ Bật, một học viên xuất sắc người Thái Bình mang tên mới là Nguyễn Cao Đàm lên giúp Trần Đăng Ninh. Nguyễn Cao Đàm đến Vũ Lăng thì được Trần Đăng Ninh trao cây kiếm Nhật, coi như bàn giao đội du kích Bắc Sơn cho ông. Nguyễn Cao Đàm tập hợp số du kích còn lại rút vào Mỏ Pia, tránh sự truy lùng của Pháp. Bởi Mỏ Pia không có đường liên hương nối với Mỏ Nhài như Vũ Lăng. Quân đội Pháp không dám đi lẻ giữa rừng nên đội du kích an toàn hơn.

    Mấy tháng sau, Phùng Chí Kiên (Lý Mạnh Liệu), Lương Văn Chi (Huy Còm) lại được Xứ ủy Bắc Kỳ cử lên Bắc Sơn thành lập Cứu Quốc quân. Đội du kích Bắc Sơn là lực lượng nòng cốt của đơn vị Cứu quốc quân đầu tiên này.

    Ngày 16 tháng 2 năm 1941 lễ thành lập Cứu quốc quân đã được tổ chức tại khu rừng Khuổi Nọi, bản Tứ Tổng nay thuộc xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn với sự có mặt của Hoàng Văn Thái, Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi, Nguyễn Cao Đàm và bà con bản Tứ Tổng, xã Vũ Lễ. Ngày đó, anh Lương Văn Thốn đã hiến một con bò đực và bà con sở tại thì góp gạo nếp góp công làm lễ tế cờ khao quân.

    Vài ngày sau, Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi nhận được lệnh lên Cao Bằng. Hoàng Văn Thái rời Bắc Sơn đi Lạng Sơn. Nguyễn Cao Đàm được giao nhiệm vụ vừa xây dựng căn cứ Bắc Sơn phát triển thành chiến khu Bắc Sơn – Vũ Nhai vừa tổ chức huấn luyện đội quân mới thành lập. Với kiến thức cơ bản học tại trường quân chính Bình Lục, Nguyễn Cao Đàm đã duy trì được đội Cứu quốc quân non trẻ đầu tiên này.

     Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi rời Bắc Sơn, qua ngả Thái Nguyên lên đến Ngân Sơn, Bắc Cạn thì bị Pháp phục kích bắn chết. Cái chết như có ai báo trước cho Pháp nên quá bất ngờ.

    Thiết nghĩ đã đến lúc mỗi người Việt Nam thực sự yêu Tổ quốc mình, yêu dân tộc mình cần tỉnh táo nhìn lại những biến đổi mau lẹ trước tình thế đất nước trong hai năm 1940 và 1941.

     Tháng 11 năm 1939 hội nghị lần thứ 6 của Trung ương đảng Cộng sản họp tại Bà Điểm đã quyết định thành lập Mặt trân Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Nửa cuối năm 1940 xung đột vũ trang giữa quân đội Thái Lan do Nhật điều khiển với quân đội Đông Dương của Pháp dọc tuyến biên giới Miên - Thái và Lào - Thái, Pháp bắt thanh niên Việt Nam ra trận đã gây nên sự bất bình trong dân chúng Nam Kỳ. Cuộc nổi dậy chống bắt lính lan rộng và trở thành khởi nghĩa (23 tháng 11 năm 1940). Nhân cớ đó Pháp huy động lực lượng lớn để đàn áp khởi nghĩa đồng thời vây ráp truy lùng các tổ chức hội kín chủ yếu là những người cộng sản. Hầu như toàn bộ những đảng viên cộng sản ưu tú vừa tham dự hội nghị lần thứ 6 của Trung ương đều bị bắt.

    Bà Điểm – Hoóc Môn là cơ sở được coi như an toàn khu, bổng dưng bị phát hiện. Hà Huy Tập bị Pháp bắt từ trước đã thành án và cũng như Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai không liên quan gì đến cuộc nổi dậy phản chiến của bà con Nam Kỳ đều bị Pháp xử tử. Lê Duẩn và một số khác bị đày ra Côn Đảo.

    Như lịch sử đảng đã ghi, Hà Huy Tập là Tổng bí thư Đảng năm 1932-1936,  dù đã bị bắt trước, không tham dự hội nghị lần thứ 6 và càng không liên quan với khởi nghĩa Nam Kỳ  ngày 23 tháng 11 nhưng vẫn bị lôi từ nhà tù ra pháp trường.

    Cái chết của Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, cho đến nay, bảy mươi năm đã qua, nhưng với riêng tôi, có điều gì đó vẫn còn day dứt không yên. Nghĩ lại lớp thanh niên Việt Nam đầu thế kỷ XX hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Bội Châu lần lượt lên đường tham gia phong trào Đông Du, đã làm nên Tâm Tâm xã rồi làm nên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (nhiều tài liệu và theo Trần Dân Tiên thì ghi Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội) là tổ chức tiền thân của đảng Cộng sản Đông Dương. Trong số đó có Hà Huy Tập và Lê Hồng Phong. Vì sớm nhận ra sự thiếu tin cậy ở con người mang tên Tống Vân Sơ nên cả hai (Hà Huy Tập và Lê Hồng Phong) đều có chung một thái độ tẩy chay không cho Tống Vân Sơ tham dự Đại hội I của đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Macao, năm 1935. Có lẽ vì thế mãi cho đến những năm 60 của thế ký XX, mỗi khi những người thuộc ban Nghiên cứu lịch sử đảng nhắc đến Hà Huy Tập, Hồ Chí Minh đều gạt ngay với thái độ hằn học.  Điều thứ hai là trong khi những người đứng đầu đảng Cộng sản Đông Dương gồm Tổng Bí thư và Ban Thường vụ đang có mặt ở Nam Kỳ trước ngày xẩy ra khởi nghĩa, thì lại có một ban thường vụ nào đó ra chỉ thị hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ. Như vậy là đã có một ban thường vụ dự phòng trên ban Thường vụ chính thức chăng? Ban thường vụ này do ai nặn ra và vì sao lại gắn bó với Tàu và đơn giản dễ dãi đón một người mang tên rất lạ là Hồ Chí Minh mà trước đó chưa hề liên hệ, giao dịch. Bởi cho đến trước ngày 28 tháng 01 năm 1941 chưa một ai trong nội bộ đảng cộng sản Đông Dương nghe nói đến  nhân vật Hồ Chí Minh, chưa ai biết ông ta vào đảng ở đâu! Thuộc đảng phái nào! Có chăng, cuối năm 1940, Võ Nguyên Giáp đang dạy ở trường Tiểu học Thăng Long làm báo Notre Vois (Tiếng nói của chúng ta) có nhận được một hai bài báo gửi từ Trung Quốc về với tên P.C. Line. Chẳng lẽ từ một hai bài báo vớ vẫn đó lại đủ tin cậy để coi P.C. Line là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản được sao. Trịnh Đông Hải, người Quảng Trị lang bạt sang Vân Nam làm nghề sửa xe dọc đường Mông Tự (Vân Nam) được Hồ Nam nhờ manh mối với Lê Quảng Ba người Nùng từ Quảng Tây sang Pắc Bó để vào Cốc Lếu. Cùng thời gian đó Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt qua Hoàng Văn Thụ ở Lạng Sơn sang Trung Quốc để bàn về hội nghị lần thứ 8 do Hồ Chí Minh triệu tập. Tính vô nguyên tắc một cách buồn cười này đã bị hội nghị bất thường mở rộng của xứ ủy Bắc kỳ họp khẩn cấp tại Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc phê phán kịch liệt và coi đó là cuộc đào ngũ. Mong mọi đảng viên cộng sản có tấm lòng yêu nước trong sáng hãy nhìn lại diễn biến vòng vo của một vị “lãnh tụ” ba mươi năm đi tìm đường cứu nước trở về hôn nắm đất tổ quốc mình và đứng ra triệu tập hội nghị trung ương đảng.

   Nguyên tắc tổ chức của một chính đảng hoạt động bí mật để cứu nước đơn giản chợ trời như vậy sao. Ba vị tự coi là thường vụ làm nên hội nghị lần thứ 7 ở Đình Bảng đã không được thừa nhận là Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ ra đời từ bao giờ, tại đâu, khi hội nghị Trung ương lần thứ 6 vừa mới kết thúc? Ban thường vụ dự phòng này không nằm trong mạch chuẩn bị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội lại rất được Hồ Chí Minh tin cậy trọng dụng làm chỗ dựa để sai khiến trọn đời!

   Xin mọi người hãy nhìn vào thời điểm nhập Cốc Lếu của Hồ Chí Minh ngay sau khi toàn bộ những đảng viên đứng đầu đảng Cộng sản Đông Dương bị xử bắn ở Hoóc Môn mà minh định lẽ đời, lẽ đảng. Đó là ngày 28 tháng 01 năm 1941. Chưa nói gì về nguyên tắc cao xa đối với một người chưa hề giao tiếp mà ngay trong hàng ngũ với nhau ai đó không may bị địch bắt hoặc vì  vắng mặt lâu ngày không rõ lý do khi trở lại còn bị thẩm tra xem xét thấu đáo, huống hồ một người hoàn toàn xa lạ. Nếu không có sự thu xếp đạo diễn khôn khéo giấu mặt nào đó thì không thể có cái gọi là hội nghị lần thứ 8. 

   Điều đáng tiếc cho lịch sử đất nước là không ai rõ, chưa ai biết lai ngang nhiên coi Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc để rồi gán Nguyễn Ái Quốc vào Nguyễn Sinh Cung. Trong khi đó, 30 năm đã qua Nguyễn Sinh Cung không có mặt trên đất nước, làm gì ở đâu, với ai chưa hề thẩm định. Vậy từ mối liên hệ nào, ai kiểm tra biết rõ ngọn ngành mà để cho ông ta đứng ra triệu tập hội nghi.
   Thiết nghĩ, không có sự vô lý, vô nguyên tắc nào đáng tiếc, đáng lên án hơn.

    Đã đến lúc mọi người Việt Nam, trước hết là đảng viên cộng sản thử nhìn vào người chủ trì và các thành viên có mặt tại Cốc Lếu tháng 5 năm 1941 có xứng đáng và đã đủ đại diện đảng cộng sản Đông Dương hay chưa! Theo nguyên tắc hoạt động bí mật, một người xa lạ, không rõ nguồn gốc, không biết tung tích lai lịch, tự nhận mình là người của Quốc tế Cộng sản mà dễ dãi tin cậy ngay được hay sao. Vả lại con người với hơn trăm tên như một gián điệp quốc tế bổng dưng nhảy vào hang Cốc Lếu triệu tập Hội nghị của một đảng nội địa, hoạt động bí mật đã bị tổn thất nặng và đang bị truy lùng?

   Đã đến lúc những người cộng sản Việt Nam cùng những nhà sử học thuộc ban nghiên cứu lịch sử đảng hãy tỉnh táo để định ra một phương pháp luận khách quan, khoa học nhận định sự kiện gọi là hội nghị trung ương lần thứ 8 tại Pắc Bó, tháng 5 năm 1941 mà con người mang tên Hồ Chí Minh triệu tập về nguyên tắc đúng hay sai, về đại biểu đủ hay thiếu và vì sao hội nghị bất thường của Xứ ủy Bắc Kỳ họp tại Vĩnh Tường cùng thời điểm đó tẩy chay  phê phán, coi Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt chạy làng vô nguyên tắc, để cuối cùng lại bị ăn đòn.
    Chuyện đó thuộc nội bộ đảng, xin nhường lại để đảng xét. Riêng về tai họa thì từ đó dân tộc Việt Nam mắc bẩy, gánh chịu nên phải viết những dòng này.

   Lại nói về Cứu quốc quân sau ngày bảo vệ dẫn đường đưa Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt từ Pắc Bó về xuôi, thoát khỏi vòng vây phục kích của Pháp thì Lưu Xuân Trường được Xứ ủy Bắc Kỳ cử lên bổ sung xây dựng thành Trung đội Cứu quốc quân. Lưu Xuân Trường sơ ý bị Pháp bắt (đã có nghi vấn bị chỉ điểm), Chu Văn Tấn, là một người Tày ra đời bên Trung Quốc, lớn lên mới được đưa sang Võ Nhai lúc đầu làm lính dõng cho Pháp sau ngày tham gia bảo vệ hội nghị Pắc Bó, Hồ Chí Minh nâng đỡ dần rồi giành cứu quốc quân từ tay Lưu Xuân Trường, Nguyễn Cao Đàm.

    Xét về ngày ra đời, thời gian tồn tại, địa bàn và mục tiêu hoạt động, Cứu quốc quân mang trọn vẹn phẩm chất và trọng trách của một đội quân cứu nước, một lực lượng vũ trang đúng với tên gọi của nó. Ngày 16 tháng 2 năm 1941 đúng là ngày sinh của đội quân cứu nước đầu tiên này. Nó và chỉ riêng nó mới xứng đáng là tiền thân của quân đội cách mạng.

    Xin mọi người lưu ý rằng sau cái gọi là hội nghị Pắc Bó với Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, ... Hồ Chí Minh trở về Tàu (chắc để báo cáo và lãnh sứ mạng xây dựng cơ sở lâu dài). Những sự cố như bị bắt ở Túc Vinh, bị giải qua các nhà lao, với “ngục trung nhật ký” quả là một cuộc dàn cảnh bài bản. Nếu Hồ Chí Minh đúng là Nguyễn Ái Quốc thì chắc chắn với chủ trương bài cộng ráo riết, Tưởng Giới Thạch không dễ dải giao ông ta cho Trương Phát Khuê quản lý ngót ba năm để cuối cùng tha bổng. Tháng 10 năm 1944, Hồ Chí Minh trở vào Pắc Bó thì biết tin Cứu quốc quân đã phát triển lớn mạnh và đang hoạt động vũ trang trên một địa bàn rộng từ Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên … Nếu là người mang động cơ cứu nước lành mạnh, trong sáng, vô tư tất cả vì đại nghĩa thì coi đó là một tin mừng để tập trung tri thức, kinh nghiệm dồn sức, góp phần củng cố, nuôi dưỡng phát triển Cứu quốc quân. Nhưng điều đó đã không thể hiện mà còn ngược lại là ông ta đã vội vả viết cho Võ Nguyên Giáp tức Lý Quang Hoa một lá thư tay về sau người ta nâng lên thành “Chỉ thị” thành lập đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân đồng thời bày mưu cho Võ Nguyên Giáp đánh chiếm hai đồn lính dõng của Pháp đã bỏ trống sau ngày Nhật đánh vào Lạng Sơn (22 tháng 9 năm 1940) là Phay Khắt và Na Ngần ở châu Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng, rồi tuyền truyền phô trương rùm beng lên để khuyếch trương chiến quả mà gây thanh thế. Từ đó, Hồ Chí Minh nghiễm nhiên tự coi mình là cha đẻ của quân đội cách mạng. Như vậy là vị “cha già dân tộc” mà chi với “hai tay gây dựng một sơn hà” lại có thêm uy quyền của “cha đẻ quân đội cách mạng” tiếng tăm Hò Chí Minh vang dội khắp non sông. Người Việt Nam đang nuôi chí đánh giặc cứu nước mê muội trước “đức hy sinh ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước” của ông ta.

     Để củng cố uy tín cho đội quân do mình sáng lập, nhân khi nhà điện ảnh người Nga là Cácmen, được ông ta mời sang làm phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” và “Chiến thắng Điện Biên Phủ” năm 1954, Hồ Chí Minh đã bày cho Võ Nguyên Giáp chụp ảnh với một số người gọi là thành lập đội Võ trang Tuyên truyền Giải phóng quân làm tư liệu lịch sử. Đó là tấm ảnh đen trắng Võ Nguyên Giáp mặc áo vét đội mũ phớt và nhóm người đeo ruột tượng trong các bảo tàng và các bộ tư liệu lịch sử đã và đang phổ biến rộng rãi. Người viết những dòng này xin một lần nữa khẳng định đó là tấm ảnh giả đóng kịch sau sự kiện 22/12/1944 mười năm.

     Xem lại hành tung Hồ Chí Minh mọi người đều dễ nhận thấy một chuỗi dối trá. Không phải Nguyễn Ái Quốc lại nhận là Nguyễn Ái Quốc. Không phải tác giả thỉnh nguyện thư gửi Hòa hội Véc xây năm 1919, nhận là tác giả. Không tham gia thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội lại nhận là người sáng lập. Không biết gì về nhóm thanh niên Việt Nam đầu tiên có mặt tại trường Đại học Phương Đông Mạc Tư Khoa lại nhận là do mình lựa chọn. Chỉ tham dự với tư cách quan sát viên hội nghị hợp nhất hai tổ chức cộng sản để thành lập đảng lại nhận mình là người sáng lập. Không đủ trình độ lý luận viết Luân cương chính trị mà chỉ đạo văn của Trần Phú để có cái gọi là chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt để cướp công Trần Phú (LiKi), Trịnh Đình Cửu (Lê Đình), Trần Văn Cung (Quốc Anh). Ăn cắp sáng kiến thành lập Mặt trận Viết Nam Độc lập Đồng minh của Hồ Học Lãm lập tại Nam Kinh năm 1936 để cố tình xóa bỏ Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương của hội nghị lần thứ 6 tháng 11 năm 1939. Tư tưởng đồng minh dưới chiêu bài đại đồng để thực hiện đại Hán đã lò ra từ đây. Không thừa nhận Cứu quốc quân đã có từ ngày 16 tháng 2 năm 1941, để phịa ra đội Việt Nam truyên truyền giải phóng quân rồi nhận mình là cha đẻ của quân đội cách mạng kể từ ngày 22 tháng 12 năm 1944.

     Hơn lúc nào hết, mong những người cộng sản yêu nước chân chính hãy tỉnh táo, sáng suốt, khôn khéo gở bỏ cái dây thừng Tàu dắt từ khi Hồ Chí Minh xâu được vào mũi mình, để thoát khỏi vòng cương tỏa, o bế của chúng, cùng toàn dân lập thành phòng tuyến giữ nước như cha ông ta đã phải đương đầu. Cái bẩy Tau tinh vi, khốn nạn nhưng không lẽ cứ để vậy mãi sao. Hơn lúc nào hết, mọi đảng viên cộng sản cần tỉnh táo xác định rõ mối quan hệ giữa dân tộc với đảng lãnh đạo một cách khách quan, công tâm, khoa học. Bởi đảng là con đẻ của dân tộc, chứ không phải dân tộc là con đẻ của đảng. Cứu được dân tộc là cứu được đảng. Nhưng nếu chỉ vì lợi ích cục bộ của đảng mà thực chất là của một ít cá nhân, hung hăng, tàn bạo nhắm mắt thực hiện điều gọi là “còn đảng còn mình” tiếp tục lừa gạt, đàn áp tất cả các thành phần ưu tú của toàn xã hội, chính là tự sát. Bởi dân tộc không toàn thì đảng đứng với ai. Nước không còn cá sống ở đâu! Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tha thiết mong mọi thành phần xã hội Việt Nam hãy trung với dân, hiếu với nước theo lời dặn của cha ông : “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”.

     Mọi thế lực cơ hội bán nước cầu vinh dù giữ cương vị gì cũng đều là phản bội, thì trời không tha, đất không dung.

       Những người con yêu dấu của Dân tộc đã chiến đấu, hy sinh vì sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo của Tổ Quốc bất luận đứng ở trận tuyến nào đều là Cứu Quốc quân.

     Tổ quốc lâm nguy mỗi người dân hãy đứng vào vị trí Cứu Quốc Quân của mình.


                                                                                         ***

                                                                         Trương Văn Lĩnh nhầm

    Bốn người vượt ngục Đắc Min ngày mồng 04 tháng 12 năm 1942 là: Trương Văn Lĩnh, Nguyễn Tạo, Chu Huệ và Trần Hữu Doanh. Vượt ngục thuở đó không chỉ trốn tránh khỏi lưới vây bủa của Pháp mà còn sợ nhiều nguồn tai mắt khác nên họ không đi bất cứ một con đường có sẵn nào kể cả lối mòn quen thuộc mà phải luồn sâu giữa đại ngàn. Rau rừng, nước suối là nguồn sống để đi. Nhắm hướng bắc mà đi. Đêm đêm trèo lên cây cao ngủ tránh cọp, ngày vác mỗi người một gốc nứa già, khô vát nhọn. Kinh nghiệm của người đi rừng dạy họ rằng cọp sợ nứa nhọn và tiếng cọ tinh nứa khô. Vác dọc ống nứa vát nhọn thỉnh thoảng lại dùng ống nứa khô ngắn cọ vào khúc nứa khô trên vai như kéo vĩ cầm nên đi không nhanh nhưng an toàn. Rừng thuở đó còn dày, nhiều thú dữ, ít người vào tận thâm sơn cùng cốc. Gian nan. Vất vả. Nhưng tránh được lưới săn tìm vây đuổi của mật thám Pháp (nguồn Nguyễn Tạo).

     Ba tháng ròng luồn rừng, lội suối, từ Đắc Min mới về thấu Nghệ An thì Chu Huệ và Trần Hữu Doanh bị bắt lại. Nguyễn Tạo không ghé về nhà ở xã Đức Bình, huyện Đức Thọ và Trương Văn Lĩnh không ghé về Nghi Lộc, Nghệ An nên thoát ra Thanh Hóa thì bắt liên lạc với cơ sở và hai người được đưa về hai nơi. Nguyễn Tạo ra ngả Đông Bắc tham gia xây dựng Đệ Tứ chiến khu. Tức chiến khu Đông Triều. Trương Văn Lĩnh được giao nhiệm vụ xây dựng chiến khu Phú Bình, phía Thái Nguyên.

    Chiến khu Phú Bình lúc đó coi như an toàn khu giao cho một tiểu đội thanh niên vũ trang bảo vệ. Đội vũ trang ngày đêm gắn bó với nhiệm vụ nên Trương Văn Lĩnh có phần an tâm và chủ quan. Hàng tuần vào ngày, giờ, địa điểm quy định Trương Văn Lĩnh tự ra bến đò nhận công văn chỉ thị. Cũng như thường lệ, không có tín hiệu bất an của đội bảo vệ, Trương Văn Lĩnh yên chí đi như một người dân bình thường. Thế là ông bị bắt. Như thể có nội gián chỉ điểm, mật thám Pháp cho tay chân cải trang phục kích rất kín chực sẵn bên bến đò Hà Châu. Trương Văn Linh vừa bước tới là bị chúng ùa ra bắt ngay. Tin Trương Văn Lĩnh bị bắt truyền nhanh. Hai thanh niên bảo vệ hốt hoảng bởi quên nhiệm vụ. Họ bàn nhau báo cáo với cấp trên là Trương Văn Lĩnh cố tình đi đầu thú.

     Một con người lặn lội suốt ba tháng dọc đường Trường Sơn ăn đói nhịn khát, chống nhau với cọp dữ, rắn độc, sên vắt, muỗi mòng mới lên được Phú Bình và đang hưng phấn hăng say chuẩn bị thời cơ giành chính quyền lại tự nhiên đi đầu thú. Chỉ có thằng mất trí mới tin. Vậy mà có người tin.

   Nguyễn Tạo ở chiến khu Đông Triều biết chuyện, liên hệ với Nguyễn Khang đang phụ trách địa bàn Hà Nội, tìm cách bắt liên lạc với Trương Văn Lĩnh, bạn vượt ngục của mình. Nhờ cơ sở binh vận, Nguyễn Khang biết Trương Văn Lĩnh đang bị biệt giam tại nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Vậy là Nguyễn Tạo biết rõ lý do Trương Văn Lĩnh bị bắt là vì hai thanh niên tự vệ làm nhiệm vụ canh gác bỏ vị trí cảnh giới đưa nhau vào chỗ kín trong rừng làm chuyện gì chỉ có trời mới biết. Để chạy tội chúng nó đã đổ hết cho người bị bắt. Cũng từ đó, Nguyễn Tạo nghi có tay trong, mật thám Pháp mới bủa lưới kín đáo đúng giờ, đúng chỗ. Tay trong đó là ai? Không lẽ. Mỗi lần nhắc đến cái chết của Trương Văn Lĩnh, cuối cùng Nguyễn Tạo đều để lửng hai tiếng “không lẽ”.

    Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Một trong những việc đầu tiên của Chính phủ này là yêu cầu Nhật thả hết chính trị phạm trong các nhà tù Pháp. Trương Văn Lĩnh cùng hàng trăm, hàng nghìn tù nhân bị Pháp bắt giam được giải thoát dịp đó. Nguyễn Khang đón Trương Văn Lĩnh về bổ sung vào Ban Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Sau ngày mồng 2 tháng 9, yêu cầu cấp thiết của chính quyền mới là tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng. Trương Văn Lĩnh là một trong số thanh niên tham gia phong trào Đông Du sau ngày Nhật bắt tay với Pháp nên không sang Đông Kinh mà được gửi vào học trường quân sự Hoàng Phố thuộc Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tôn Dật Tiên. Trong số những người tham gia tổ chức cướp chính quyền ở Hà Nội tại thời điểm đó, Trương Văn Lĩnh là người có kiến thức quân sự hơn cả nên được chỉ định làm Hiệu trưởng trường Quân chính.

    Trong số học viên có mặt ngày khai giảng khóa đầu tiên lại có hai thanh niên vốn là hai người bảo vệ bỏ vị trí cảnh giới làm Trương Văn Lĩnh bị bắt. Trớ trêu là chỗ đó. Họ sợ hãi vị Hiệu trưởng mới nhận ra mình nên đã vội vả viết thư nặc danh tố cáo Trương Văn Lĩnh đã đầu hàng, là tay chân Pháp chui vào hàng ngũ cách mạng. Mặt khác hai người này còn rủ rê kích động số học viên mới gặp nhau gây nên hoang mang trong toàn Khu học xá Bạch Mai (nay là trường Đại học Bách Khoa).

     Biết là có tay trong phá hoại lại đích danh tố cáo mình, Trương Văn Lĩnh bối rối dường như bế tắc mới nghĩ đến Hồ Chí Minh đã về làm chủ tịch nước nên viết một lá thư tường trình đầy đủ quá trình vượt ngục, nguyên nhân bị bắt và đang bị học viên trường quân chính vu oan giá họa. Hy vọng chủ tịch nước nhớ lại hai lần được Trương Văn Lĩnh cứu nguy ông ta ở bên Tàu mà minh oan cho mình. Lần thứ nhất vào  tháng 5 năm 1927, đang đêm được tin cảnh sát Tưởng Giới Thạch sắp vây bắt Lý Thụy, Trương Văn Lĩnh kịp đến báo cho Lý Thụy chạy thoát. Lần thứ hai vào năm 1931 khi Tống Văn Sơ bị mật thám Anh bắt theo giao kèo với mật thám Pháp, Trương Văn Lĩnh đã đến tận nhà riêng luật sư người Anh là Lô giơ bai kêu cứu. Nhờ vậy Tống Văn Sơ mới không rơi vào tay Pháp, tránh khỏi án tử hình vắng mặt.

    Thư cầu cứu gửi đi, Trương Văn Lĩnh hy vọng sớm được giải oan. Bởi ông tin rằng Hồ Chí Minh là Lý Thụy mà mình đã cứu sống hai lần thế nào cũng nhớ. Nhưng sau một tuần bặt vô âm tín, Trương Văn Lĩnh mới nhận được mấy dòng chữ hồi âm viết vào mặt trong bao thuốc lá Caravenna : “Tổ quốc còn bận trăm công nghìn việc. Chuyện quan hệ cá nhân xét sau”.

    Nhìn hàng chữ vừa bất lịch sự, thiếu văn hóa vừa vong ân, Trương Văn Lĩnh quá uất ức phẩn nộ, chưa kịp nghĩ rằng đó là âm mưu thâm độc của người không muốn có mặt mình trên cõi đời này. Ông ngồi xếp bằng bình tĩnh lấy khăn quàng thắt thòng lọng vào cổ mình rồi dùng hai tay kéo thẳng ngang sang hai bên. Cho đến khi tắt thở ông vẫn ngồi yên theo tư thế của một cây thánh giá dựng giữa giáo đường.

   Được tin Trương Văn Lĩnh thắt cổ, Nguyễn Tạo, Nguyễn Khang … chạy đến nhưng cứu không kịp.

    Vốn là một con chiên ngoan đạo, yêu nước,  Trương Văn Lĩnh về với Đức Chúa Trời trong tư thế lẫm liệt như vậy đó.

     “Đời tôi chưa bao giờ khóc ai to và thống thiết đến thế”. Có lần Nguyễn Tạo đã nói với đồng nghiệp, bạn bè và thuộc cấp tại Tổng Cục Lâm Nghiệp ở số nhà 25 đường Lò Đúc, Hà Nội như vậy. Ông là người vuốt mắt cho bạn vượt ngục thủy chung, son sắt của mình.

    Hồ Chí Minh bình chân như vại và yên tâm nghĩ rằng, những người ít nhiều có biết Lý Thụy, Nguyễn Tất Thành, Tống Vân Sơ ... dần dần sẽ không còn ai.

     Trương Văn Lĩnh chết. Bị tuyên bố kỷ luật. Hai học viên viết thư nặc danh gây nên cái chết đó chính là hai người được giao nhiệm vụ cảnh giới bảo vệ Trương Văn Lĩnh tại chiến khu Phú Bình.

    Cái hay là người có tội đã nên công. Tay đàn ông được cất nhắc dần lên chức Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản. Ả đàn bà leo lên chức Trưởng ban Kiểm tra đảng. Đó là cặp vợ chồng Nguyễn Trọng Tĩnh và Hà Thị Quế – tác giả “chính hiệu con nai vàng” về cái chết của Trương Văn Lĩnh.

   Nếu Hồ Chí Minh đúng là Tống Vân Sơ - Lý Thụy thì đời nào lại về hùa với hai kẻ vu oan giá họa kia.
   Trương Văn Lĩnh nhầm.

     Ghi chú về 4 người vượt ngục:
  1. Trương Văn Lĩnh (như trên).
  2. Trần Hữu Doanh không rõ.
  3. Chu Huệ bị xử tử trong cải cách ruộng đất với tội danh là Quốc Dân đảng phản động.
  4. Nguyễn Tạo (Tạo Cuội- bị Pháp tra tấn vẫn lì như cuội, sỏi) cuối đời vận động lập làng Lâm nghiệp đầu nguồn và xây dựng công sự chống Tàu dọc biên giới Việt – Trung. Bị bắc. Chết bệnh, chôn theo niềm nghi vấn đắng cay: “Không lẽ”.

                                                                                         ***
                                                      May còn có Jao và may còn có Phông Sông

     Nhiều nhà báo, nhà giáo, nhà sử miền Bắc gần thế kỷ qua không ngớt lời ca tụng công lao vĩ đại của Hồ Chí Minh. Rất tiếc, công lao đó lại ít căn cứ vào hành tung cụ thể về tính trung thực mà chỉ dựa vào huyền thoại của vài cuốn sách dưới dạng xảo thuật như “Lịch sử nước ta”. “Những mẫu chuyện về đời hoạt động cách mạng của Hồ chủ tịch”. “Vừa đi đường vừa kể chuyện”. “Giấc ngủ mười năm”... của các tác giả Trần Dân Tiên, T.Lan. Hồ Quang, Trần Lực...

    Xin thưa. Các tác giả này cũng chính là Hồ Chí Minh. Chưa nói phẩm chất chính khách mà người cầm bút bình thường, minh bạch, đàng hoàng không ai lại vòng vo li kì để tự tâng bốc mình. Nói theo kiểu các bà miệt vườn quê tôi : Xạo. Ai lại làm thế. Vậy mà đã có người làm.

        “Triệu Đà là tổ nước ta.
        Nước ta khi đó gọi là Văn Lang”
    (Lịch sử nước ta, Pắc Bó 1941, bản in li tô).

    Nhầm hay cố ý xem hồi sau sẽ rõ. Thật lắm chuyện để viết về con người này. Xin được trình “May còn có Jao và may còn có Phôngsông” trước.

     Bởi các nhà báo, nhà giáo, nhà sử, nhà văn, nhà thơ... đều đồng loạt viết Hồ Chí Minh là người sáng lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, là người trực tiếp huấn luyện, giảng dạy và cũng lại là người đã chọn thanh niên ưu tú giới thiệu với Mạc Tư Khoa. Ý thức trách nhiệm chuẩn bị nhân sự cho cách mạng Việt Nam như thế quả là quá vĩ đại nói mấy đời người không hết.

     Chỉ riêng chuyện ở trường Đại học Phương Đông, Mạc Tư Khoa cũng đủ soi sáng công lao vĩ đại đó lắm rồi.

    Năm 1929, Nguyễn Sinh Cung từ Thái Lan vừa qua Mạc Tư Khoa thì được tin tại trường Đại học Phương Đông có năm người Việt Nam đang theo học và đã thành lập chi bộ đảng. Dưới tên Nga là Line, Nguyễn Sinh Cung xin đến trường gặp gỡ thăm viếng năm thanh niên trên. Lần đầu cả năm người này đều từ chối với lý do không quen biết và không có người giới thiệu. Vài ngày sau Line lại đến nhờ người gác tại phòng thường trực vào Ký túc xá nói với Liki. Liki từ chối gặp. Nhưng Litvi có vẻ ái ngại rồi bàn với anh em nên gặp vì dù sao cũng là một đồng hương xa xứ. Nhưng chỉ gặp ngoài thường trực thôi. Cả nhóm năm người đồng ý kéo nhau ra cổng trường. Hai bên chào hỏi vài câu lấy lệ rồi chia tay ngay. Không đàm đạo trò chuyện gì. Bởi với hiểu biết của nhóm thanh niên này thì Nguyễn Sinh Cung từng làm việc cho Pháp, lai lịch không rõ ràng nhất là không thuộc tuyến, không thuộc đường dây hoạt động, không có người giới thiệu. Mặt khác, từ sau ngày Phan Bội Châu bị Pháp đón bắt ở Thượng Hải (1/6/1925), Lý Thụy trở thành kẻ nghi can đáng ngại nhất. Hơn nữa, cảnh giác là nội quy và cũng là điều lệnh của nhà trường mà cả nhóm đều phải tuân thủ.

     Vì thế, buổi tiếp xúc lần đầu và cũng là lần cuối quá thờ ơ, nhạt nhẽo nên Line chỉ biết sơ qua tên tiếng Nga của vài người thôi. Không ai giới thiệu tên tiếng Việt của mình với anh ta. Vả lại, cuộc giao tiếp quá ngắn ngủi vài câu chào hỏi chỉ bằng tiếng Nga. Theo Phôngsông tiếng Nga của Line cũng bập bõm không hơn gì tiếng Pháp.

      Trong số năm thanh niên thành lập chi bộ đảng cộng sản tại trường Đại học Phương Đông năm 1929, thì Phôngsông, Litvi và Ruki là thành viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, Jao là của đảng Thanh niên Sài Gòn và Liki là của Tân Việt. Họ đều là những thanh niên ưu tú được Tổng bộ Thanh niên lựa chọn và giới thiệu với trường Đại học Phương Đông. Hơn ai hết họ biết rõ Tổng bộ, biết rõ người sáng lập và huấn luyện họ. Đó là Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm, Lê Văn Phan (tức Lê Hồng Sơn), Lê Hồng Phong.

     Điều này chứng tỏ Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành hay Lý Thụy không hề là người sáng lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, không hề là người tham gia giảng dạy tại các khóa huấn luyện ngắn ngày (có kiến thức đâu mà dạy) và càng không hề là người chọn gửi “một số thanh niên đi học để chuẩn bị nhân sự cho cách mạng Việt Nam” như các nhà sử, nhà giáo, nhà báo miền Bắc đã ngợi ca, thêu dệt trong các tác phẩm biên khảo hay giáo trình, giáo khoa của họ. Lê Hồng Phong học tại trường quân chính Xô Viết cũng không hề tiếp Lý Thụy – Nguyễn Sinh Cung. Mặc dầu Lê Hồng Phong cũng là yếu nhân của Tâm Tâm xã tiền thân của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Người đã từng nằm trong Tổng bộ của tổ chức này.

     Nếu cả năm vị thanh niên trên không còn ai thì công lao vĩ đại nhất định thuộc về “bác”. Bác là người sáng lập, là người huấn luyện, đào tạo, là người gửi thanh niên sang học các trường Đại học quốc tế, là người dày công chuẩn bị nhân sự cho cách mạng Việt Nam...

    Nhưng thưa không phải. Bác nhận vơ thôi. Thực tế thì sau tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái (19/6/1924) không ai dại gì mà giao dịch với người ngoài tuyến, nhất là những người đã từng làm công cho Pháp, từ Pháp đến. Lý Thụy lảng vảng ở Quảng Châu vài năm (1925-1926) không bám vào đâu được, phải chạy sang Thái Lan. Nhưng ở đây theo Đông Tùng – Nguyễn Tư Hồng thì tuyến Vương Thúc Oánh (con rể Phan Bội Châu), Đặng Quỳnh Anh (em ruột Đặng Thúc Hứa) không tin Chín Thậu nên ông ta lại phải chạy sang Nga. Đó là những ngày Chín Thậu – Nguyễn Sinh Cung mong làm quen với nhóm thanh niên Việt Nam, tại trường Đại học Phương Đông. Cũng như ở Thái, ông ta bị nghi ngờ nên cuộc gặp hết sức nhạt nhẽo. Nếu không muốn nói là bị tẩy chay.

    Lê Duy Điếm, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong đều chết trước năm 1945. Hồ Tùng Mậu bị “máy bay Pháp” bắn chết trong lần một mình một ngựa đi đường tại vùng tự do đầu những năm kháng chiến 9 năm. Cái chết của ông cũng giống như cái chết của Trung tướng Nguyễn Bình ở Nam Bộ và Phùng Chí Kiên ở Bắc Cạn. Thật đáng ngờ. Tưởng hết nhân chứng.

    May là ông Trời không muốn dân ta bị lừa suốt bến nên đã để Jao và Phôngsông thầm lặng sống hết tuổi già ở Hà Nội. Jao chính là Giao lấy tên từ “giáo” là người từng làm nghề dạy học tại Sài Gòn trước năm 1928. Đó là Bùi Công Trừng ở số 4 Dốc Ngọc Hà, Hà Nội. Phôngsông chính là Bùi Lâm ở số 5 Dã Tượng, Hà Nội. Cả hai người này đã khẳng định là lúc đầu năm người đều từ chối tiếp. Nhưng Litvi - Ngô Đức Trì lấy lẽ đồng hương, nên cả bọn kéo nhau ra thường trực nhìn cho biết mặt thôi. Dứt khoát không cho anh ta vào Ký túc xá. Vụ Phan Bội Châu bị Pháp đón bắt ở Thượng Hải còn mới quá.

    Như vậy là trước đó họ chưa biết nhau. Chưa cùng hội cùng thuyền với nhau nên tiếp một cách xã gia miễn cưỡng. Điều này chứng tỏ, người nọ không tổ chức, dạy bảo, giới thiệu người kia.

   Nếu Lý Thụy quả thật có tham gia sáng lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, có tham gia huấn luyện hội viên, lại là người lựa chọn, giới thiệu thanh niên Việt Nam để gửi sang Liên Xô đào tạo, theo tài liệu tuyên truyền và giảng dạy, thì năm thanh niên trên không đời nào xử sự với anh ta như thế. Đạo lý Việt Nam ai cũng coi trọng  thầy theo lẽ “Quân, Sư, Phụ với ân nghĩa “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.

    Như vây là về người thỉnh thoảng có ra mắt thính giảng vài giờ tại một hai khóa huấn luyện cấp tốc, mà một vài người thuật lại, phải chăng là Liêu Trọng Khải, Hội trưởng “Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức ở Á Châu” do người Tàu lập ra. Vì lén lút nhập nhoạng trong tình thế hoạt động bị mật, nhiều người về sau tưởng ông đó là Nguyễn Ái Quốc “hữu danh” từ lâu. Bên cố ý, bên vô tâm. Nhầm lẩn do láu cá và ngộ nhận là thế. Đôi khi cái bệnh mãn tính “thấy sang bắt quàng làm họ” đã làm cho một số người đời thêu dệt thêm.

     Liki là Trần Phú. Litvi là Ngô Đức Trì. Rucki là Nguyễn Thế Rục đều đã qua đời khi chưa kịp viết di chúc. May còn có Jao và may còn có Phôngsông.

     Trước anh linh năm vị tiền bối từng là sinh viên trường Đại học Phương Đông Mạc Tư Khoa (1928-1929), tôi có bổn phận nói lên sự thật và sau khi viết được những dòng này tự cảm thấy lấy làm mãn nguyện. Nếu có điều gì chẳng hay đến với tôi, tôi thanh thản ra đi không mảy may ân hận.

Nguyễn Gia Định





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét