BÍ MẬT LỊCH SỬ: CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TRUNG-VIỆT LẦN THỨ HAI TỪ 1984-1989. QUÂN TRUNG QUỐC TRÀN XUỐNG BÌNH ĐỘ 1100 - Ngày 2 tháng 12, 1985 (bài 8).
Website Trung Quốc quảng cáo du lịch núi Lão Sơn
Website Trung Quốc viết về Núi Đất 1509
(tức là núi Lão Sơn của Trung Quốc hiện giờ)
http://lsl.nease.net/lyjd-1.htm
http://lsl.nease.net/lyjd-1.htm
Vụ mất cứ điểm 1509 đang là đề tài bắt đầu được chú ý và tranh cãi ở Việt Nam hiện nay; nhất là sau khi tài liệu từ phía Trung Quốc cho thấy Trung Quốc đã chiếm được ít nhất là 600km đất đai của Việt Nam trong trận chiến biên giới lần 2. Tranh cải ở đây không phải ở việc có mất hay không mất cứ điểm 1509 (mà Trung Quốc gọi là Núi Lão Sơn), bởi vì tất cả mọi người đã nhìn thấy sự thật Việt Nam đã hoàn toàn mất mõm núi 1509 về tay Trung Quốc; mà tranh cải ở con số thương vong của phía bên bộ đội CSVN. Cuộc tranh cãi cũng xoay quanh vào cường độ của trận đánh tại mõm núi 1509. Qua các vụ tranh cãi này, chúng ta nhận thấy một điều là người dân trong nước nay đã bắt đầy để ý tìm hiểu về việc mất đất ở tỉnh Hà Giang vào tay TQ., cũng như việc mất núi Lão Sơn. CSVN dù có cố tình im lặng không trả lời với quốc dân Việt Nam ở lúc này thì lịch sử rồi cũng sẽ phanh phui tất cả. Không một sự thật nào có thể được che dấu dưới ánh sáng của mặt trời, và lúc bấy giờ phiên toà hồi tố tộc ác cộng sản, cũng như tội dâng đất bán biển của đảng CSVN cho Trung Quốc sẽ còn nặng gấp trăm lần, hơn là nhịn nhận sự thật và công bố những gì Việt Nam đã mất từ năm 1981 đến 1991.
Câu hỏi cũng cần phải cần đặt ra cho các sĩ quan CSVN và những người cán binh đã từng tham gia trận đánh 1509 là tại sao chính họ không lên tiếng nói lên sự thật mà họ đã biểt Chính cái chính quyền đó đã phản bội sự hy sinh xương máu của họ, chính cái chính quyền đó đã làm mất đất của tổ tiên chúng ta. Bây giờ có muốn lấy lại những ngọn núi đó, ta và con cháu của chúng ta phải trả bằng máu mới lấy lại đươc. Ngay từ đầu thập niên 50, để đổi lại sự viện trợ vũ khí của Trung Quốc, HCM và tập đòan CSVN đã cam tâm chấp nhận làm nộ lệ và vâng lệnh Mao Trạch Đông thực hiện cải cách ruộng đất giết không biết bao nhiều người tài miền Bắc. Rõ ràng CSVN đã lấy đất, lấy biển của tổ tiên ta đem ra trả nợ cho những nợ họ đã vay mượn của Trung Quốc trong hai cuộc chiến vừa qua!
4 xác chết của cán binh cộng sản Việt Nam tại trận bình độ 1100
Hình trích từ mạng burningblood.yournet.cn
Trở lại đề tài chính hôm nay đó là trận phòng ngự ở bình độ 1100. Đây là tài liệu của phía VN mà chúng tôi tìm tòi được cùng với bản đồ của trận đánh. Vì bản đồ quá lớn, chúng tôi phải cắt ra làm 4, xin quý bạn đọc in ra và ráp lại để có thể có cái nhìn cụ thể và rõ ràng hơn. Trận đánh xãy ra vào ngày 2 tháng 12 năm 1985, và cách đỉnh của mõm Núi Đất 1509 1.5km. Từ năm 1984, quân Trung Quốc đã chiếm ít nhất là 10 ngọn núi của VN, rồi từ đó tràn xuống bình độ 1200 thì bị quân đội CSVN chặn lại. Đến này 2 tháng 12, 1985, quân Trung Quốc tràn xuống bình độ 1100. Biên bản giao tranh của Việt Nam ghi nhận là đẩy lui được quân Trung Quốc trong trận này; điều này chúng tôi ghi nhận đúng khi so lại với tài liệu của phía Trung Quốc.
TRẬN ĐÁNH Ở BÌNH ĐỘ 1100 NHÌN TỪ PHÍA VIỆT NAM
TRẬN PHÒNG NGỰ Ở BÌNH ĐỘ 1100 (VỊ XUYÊN - HÀ TUYÊN)
của đại đội 2, tiểu đoàn 1, trung đoàn 2, sư đoàn 3, quân đoàn 14 Quân khu 1.
Ngày 2-12-1985.
của đại đội 2, tiểu đoàn 1, trung đoàn 2, sư đoàn 3, quân đoàn 14 Quân khu 1.
Ngày 2-12-1985.
ĐỊA HÌNH
Nơi xảy ra chiến đấu là bình độ 1100 nằm trên dãy núi đất 1509, cách đỉnh 1,5km. Giữa bình độ 1100 và 1000 là mỏm 1050. Phía tây bắc bình độ 1100, cách 50m là đồi tiền tiêu, chỉ cách địch 100m là nơi hai bên thường tranh chấp, bên trái đồi tiền tiêu là đồi chè địch có thể đánh vào sườn trái trận địa.
Ngang với đồi chè, cách 800m về phía tây, giữa bình độ 1200 và 1100 là đồi Không Tên, có thể ngăn chặn địch vu hồi vào sườn trái hoặc luồn vào phía sau.
Trong khu vực pháo hai bên bắn phá nhiều nên bề mặt đất tơi vụn, chỉ còn ít cây cối.
Hàng ngày thường có sương mù từ chiều đến 7-8 giờ sáng, hôm tác chiến có sương mù cả ngày.
Ngang với đồi chè, cách 800m về phía tây, giữa bình độ 1200 và 1100 là đồi Không Tên, có thể ngăn chặn địch vu hồi vào sườn trái hoặc luồn vào phía sau.
Trong khu vực pháo hai bên bắn phá nhiều nên bề mặt đất tơi vụn, chỉ còn ít cây cối.
Hàng ngày thường có sương mù từ chiều đến 7-8 giờ sáng, hôm tác chiến có sương mù cả ngày.
TÌNH HÌNH ĐỊCH
Tháng 4-1984, sau khi chiếm 1509 và 722, địch tiếp tục lấn sang đất ta đến bình độ 1200 phải dừng lại, xây dựng trận địa phòng ngự tiếp xúc với ta.
Địch thường xuyên bắn pháo, tung biệt kích, thám báo sang trinh sát trận địa ta. Ngày 30-5-1985 địch bắn hàng ngàn quả đạn pháo trong suốt 24 tiếng và cho 1 trung đoàn bộ binh từ đỉnh 1509 đánh xuống 1100, bản Nậm Ngặt, đồi Không tên nhưng bị ta đánh thiệt hại nặng, phải chạy về 1509.
Từ 11-6 đến 7-10-1985 địch thường xuyên bắn phá, dùng cả đạn hoá học và nhiều lần tấn công cả ban ngày và ban đêm nhưng đều bị ta đánh lui.
Mùa khô năm 1985, lực lượng địch vào thay phiên. Phòng ngự ở 1509 là trung đoàn 603, sư đoàn 201, quân đoàn 67 Đại quân khu Tế Nam. Địch tổ chức đánh lấn trên toàn tuyến nhằm cải thiện thế trận, phá thế xen kẽ, lấn dũi trên hướng Nậm Ngặt của ta.
Cuối tháng 11-1985 địch tăng cường bắn phá, trinh sát. Trong 4 ngày từ 28-11 đến 1-12-1985 địch bắn 3.000 viên đạn pháo và hoả tiễn vào khu núi đá phía đông và khu núi đất. Riêng 1100 ngày 28-11-1985 địch bắn 300 viên, ngày 29-11 và 30-11 mỗi ngày bắn 100 viên. Ngày 1-12-1985 địch không bắn vào 1100.
Địch thường xuyên bắn pháo, tung biệt kích, thám báo sang trinh sát trận địa ta. Ngày 30-5-1985 địch bắn hàng ngàn quả đạn pháo trong suốt 24 tiếng và cho 1 trung đoàn bộ binh từ đỉnh 1509 đánh xuống 1100, bản Nậm Ngặt, đồi Không tên nhưng bị ta đánh thiệt hại nặng, phải chạy về 1509.
Từ 11-6 đến 7-10-1985 địch thường xuyên bắn phá, dùng cả đạn hoá học và nhiều lần tấn công cả ban ngày và ban đêm nhưng đều bị ta đánh lui.
Mùa khô năm 1985, lực lượng địch vào thay phiên. Phòng ngự ở 1509 là trung đoàn 603, sư đoàn 201, quân đoàn 67 Đại quân khu Tế Nam. Địch tổ chức đánh lấn trên toàn tuyến nhằm cải thiện thế trận, phá thế xen kẽ, lấn dũi trên hướng Nậm Ngặt của ta.
Cuối tháng 11-1985 địch tăng cường bắn phá, trinh sát. Trong 4 ngày từ 28-11 đến 1-12-1985 địch bắn 3.000 viên đạn pháo và hoả tiễn vào khu núi đá phía đông và khu núi đất. Riêng 1100 ngày 28-11-1985 địch bắn 300 viên, ngày 29-11 và 30-11 mỗi ngày bắn 100 viên. Ngày 1-12-1985 địch không bắn vào 1100.
TÌNH HÌNH TA
Trận địa ta ở 1100 và 1050 có hầm kèo bằng gỗ và bê tông, chịu được đạn cối 120mm. Hệ thống công sự, giao thông hào, chiến hào đảm bảo tốt cho chiến đấu. Hào cơ động giữa các trung đội và về tiểu đoàn đảm bảo đi lại thuận tiện trong mọi tình huống. Giữa 1100 và 1050 có một đường hào đi lại, cấu trúc đặc biệt để ngăn chặn địch phát triển (đặc biệt thế nào thì không nói được hè hè).
Hệ thống vật cản là các bãi mìn chống bộ binh trên hướng đồi tiền tiêu, nhưng địch bắn phá đã làm mất tác dụng.Tháng 2-1985, cấp trên tăng cường trung đoàn 2, sư đoàn 3 cho mặt trận. Ngày 22-4-1985 thay phiên phòng ngự, lấy phiên hiệu là trung đoàn 981, sư đoàn 356 Quân khu 2.
Tiểu đoàn 1 được lệnh hòng ngự hướng núi đất xã Thanh Đức, phía tây Thanh Thủy.
Hệ thống vật cản là các bãi mìn chống bộ binh trên hướng đồi tiền tiêu, nhưng địch bắn phá đã làm mất tác dụng.Tháng 2-1985, cấp trên tăng cường trung đoàn 2, sư đoàn 3 cho mặt trận. Ngày 22-4-1985 thay phiên phòng ngự, lấy phiên hiệu là trung đoàn 981, sư đoàn 356 Quân khu 2.
Tiểu đoàn 1 được lệnh hòng ngự hướng núi đất xã Thanh Đức, phía tây Thanh Thủy.
Đại đội 2, tiểu đoàn 1 tham gia chiến đấu với quân số 80 người. Vũ khí có 2 khẩu cối 60mm, 2 khẩu đại liên, 9 khẩu trung liên, 6 khẩu B40 và B41, 2 khẩu M79, còn lại là AK. Được tăng cường 1 khẩu cối 60mm và 1 khẩu 12,7mm.
Chiến sĩ đa số nhập ngũ năm 1983, 1984, một số năm 1981.
Cán bộ chiến sĩ được huấn luyện tốt, tinh thần, quyết tâm cao, đã nắm được nhiệm vụ, phương án chiến đấu và đã có kinh nghiệm sau gần một năm phòng ngự.
Sau đợt chiến đấu ngày 7-10-1985 đại đội 2 vào phòng ngự ở 1100, 1050 thay đại đội 1.
Một trung đội và 1 đại liên ở đồi tiền tiêu và Gò chè.
Hai trung đội và 2 khẩu cối 60mm phòng ngự phía sau ở 1100.
Một trung đội và 1 cối 60mm, 1 khẩu 12,7mm, 1 đại liên phòng ngự ở 1050 và làm lực lượng cơ động.
Chiến sĩ đa số nhập ngũ năm 1983, 1984, một số năm 1981.
Cán bộ chiến sĩ được huấn luyện tốt, tinh thần, quyết tâm cao, đã nắm được nhiệm vụ, phương án chiến đấu và đã có kinh nghiệm sau gần một năm phòng ngự.
Sau đợt chiến đấu ngày 7-10-1985 đại đội 2 vào phòng ngự ở 1100, 1050 thay đại đội 1.
Một trung đội và 1 đại liên ở đồi tiền tiêu và Gò chè.
Hai trung đội và 2 khẩu cối 60mm phòng ngự phía sau ở 1100.
Một trung đội và 1 cối 60mm, 1 khẩu 12,7mm, 1 đại liên phòng ngự ở 1050 và làm lực lượng cơ động.
Đơn vị bạn trong khu vực : bên phải là đại đội 5, tiểu đoàn 5, trung đoàn 153 ở trận địa lấn dũi bản Nậm Ngặt, bên trái alf đại đội 3 ở đồi Không Tên, phía sau là đại đội 1 thiếu ở bình độ 1000 đến 900.
Trong chiến đấu đơn vị được hoả lực tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và tiểu đoàn 1, 2 và trung đoàn 153 chi viện gồm : 2 tiểu đoàn pháo 76,2mm và 122mm gồm 18 khẩu, 2 đại đội cối 106,7mm và 120mm gồm 4 khẩu; 2 đại đội và 1 trung đội cối 82mm gồm 10 khẩu. Ngoài ra có pháo binh quân khu.
Trong chiến đấu đơn vị được hoả lực tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và tiểu đoàn 1, 2 và trung đoàn 153 chi viện gồm : 2 tiểu đoàn pháo 76,2mm và 122mm gồm 18 khẩu, 2 đại đội cối 106,7mm và 120mm gồm 4 khẩu; 2 đại đội và 1 trung đội cối 82mm gồm 10 khẩu. Ngoài ra có pháo binh quân khu.
DIỄN BIẾN
Từ 28-11-1985 đến 1-12-1985
Pháo địch bắn phá. Đại đội đôn đốc các phân đội tăng cường cảnh giới, ẩn nấp bảo vệ lực lượng, sửa chữa công sự. Sẵn sàng chiến đấu.
Ngày 2-12-1985
Địch tiến công trên cả 3 khu vực : Pha Hán, đông bắc 685 (khu núi đá) và bắc Thanh Đức (khu núi đất).
03h00 : bộ phận trực chiến ban đêm (50% quân số) ở đồi tiền tiêu và gò chè nghe tiếng động trước tiền duyên, dùng cối 60mm và M79 bắn vào những nơi đó. ĐỊch không phản ứng.
04h00 : bộ đội ra vị trí trực chiến 100%.
06h30 : trời vẫn còn sương mù dày đặc, tầm quan sát hạn chế nhưng pháo cối địch bắt đầu bắn chuẩn bị trên toàn hướng phòng ngự của trung đoàn. Riêng phạm vi từ bình độ 1100 đến 700 địch bắn 20.000 viên đạn pháo cối trong 2 giờ. Nhiều công sự của ta bị sụt lở.
Trong lúc pháo bắn chuẩn bị, 2 tiểu đoàn bộ binh địch từ 1509 triển khai tấn công :
Hướng chủ yếu : mũi 1 khoảng 1 tiểu đoàn từ 1200 theo sống núi đánh xuống đồi tiền tiêu, mũi 2 khoảng 1 đại đội tăng cường từ sườn tây đánh gò chè.
Hướng vu hồi : mũi 3 khoảng 1 đại đội tăng cường theo sườn đông bắc (tây Nậm Ngặt) đánh vào 1050 cắt phía sau 1100.
Hướng phối hợp : 1 mũi khoảng 1 đại đội từ hía bắc đánh xuống trận địa lấn dũi của đại đội 5 ở Nậm Ngặt, 1 mũi khoảng 1 đại đội từ tây 1400 đánh xuống đồi Không tên. 2 mũi này bị ta đánh lui.
Từ lúc pháo bắn, tuy bị mất liên lạc với phân đội phòng ngự nhưng trung đoàn phán đoán địch tấn công nên đã cho súng cối bắn chặn trước tiền duyên 1100, gò chè, bắc Nậm Ngặt và vào trận địa địch ở 1200 đến 1300 và 1509, đồng thời báo cáo sư đoàn, đề nghị pháo binh sẵn sàng chi viện.
Trong lúc pháo bắn chuẩn bị, 2 tiểu đoàn bộ binh địch từ 1509 triển khai tấn công :
Hướng chủ yếu : mũi 1 khoảng 1 tiểu đoàn từ 1200 theo sống núi đánh xuống đồi tiền tiêu, mũi 2 khoảng 1 đại đội tăng cường từ sườn tây đánh gò chè.
Hướng vu hồi : mũi 3 khoảng 1 đại đội tăng cường theo sườn đông bắc (tây Nậm Ngặt) đánh vào 1050 cắt phía sau 1100.
Hướng phối hợp : 1 mũi khoảng 1 đại đội từ hía bắc đánh xuống trận địa lấn dũi của đại đội 5 ở Nậm Ngặt, 1 mũi khoảng 1 đại đội từ tây 1400 đánh xuống đồi Không tên. 2 mũi này bị ta đánh lui.
Từ lúc pháo bắn, tuy bị mất liên lạc với phân đội phòng ngự nhưng trung đoàn phán đoán địch tấn công nên đã cho súng cối bắn chặn trước tiền duyên 1100, gò chè, bắc Nậm Ngặt và vào trận địa địch ở 1200 đến 1300 và 1509, đồng thời báo cáo sư đoàn, đề nghị pháo binh sẵn sàng chi viện.
08h30 : cuối giai đoạn pháo bắn chuẩn bị, địch bắn đạn nổ không mảnh vào 1100 từ 7-10 phút (từ 1050 xuống vẫn bắn đạn sát thương). Đồng thời bộ binh của hai mũi hướng chủ yếu nhanh chóng tiếp cận trận địa ta, chiến sĩ cảnh giới không phát hiện nên bộ đội vẫn ở trong hầm tránh pháo. Khi đã vào sát chiến hào, cùng một lúc địch xung phong bất ngờ và đột nhập trận địa. Đồi tiền tiêu và 1100 ta bị hy sinh 2 và bị thương 7 đồng chí. Gò chè hy sinh 7 đồng chí, chỉ còn 2 đồng chí chiến đấu.
Sau khi đột nhập, địch phát triển đánh vào bên trong. Mũi 1 chia làm 2 bộ phận đánh sang sườn đông và lên đỉnh nơi bố trí đại liên. Mũi 2 chia làm 2 bộ phận đánh vào sườn tây nơi có hầm chỉ huy đại đội và bọc phía nam 1100.
Lúc này pháo cối ta vẫn bắn chặn trước tiền duyên và trên đỉnh 1509. Đại đội trưởng đang ở đồi tiền tiêu thấy địch đã kịp thời báo cáo tiểu đoàn đồng thời ra lệnh cho bộ đội chiến đấu.
Trung đoàn nắm được tình hình đã tập trung toàn bộ súng cối của trung đoàn, tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 5 trung đoàn 153 (sắp vào thay phiên) bắn mãnh liệt bao bọc quanh tiền duyên từ tây gò chè đến đông 1050, yêu cầu pháo sư đoàn và quân khu bắn từ bình độ 1200 trở lên. Hoả lực ta từ cối 82mm trở lên bắn cách mép hào 100m, cối 60mm bắn sát mép hào rất chính xác đã chia cắt lực lượng địch phía sau, cô lập bọn đã đột nhập trận địa.
Bên trong điểm tựa, bộ đội ta chiếm giữ các cửa hầm đánh địch. Mũi 1 nhiều tên bị diệt, số còn lại không phát triển được. Mũi 2, một toán 7-8 tên mang bộc phá tới gần hầm đại đội trưởng, chiến sĩ trong hầm phát hiện, dùng lựu đạn tiêu diệt. Cùng lúc đó, đại liên và 12,7mm của ta ở 1050 bắn mãnh liệt vào đội hình địch diệt nhiều tên, số còn sống phải chạy trở ra (1 tên bị thương nằm sát mép hào phía tây, chiến sĩ ta kéo xuống một lcú sau thì chết).
Pháo cối của ta vẫn bắn chặn địch. Tiểu đoàn và trung đoàn đã điều động lực lượng lên tăng viện : đại đội 1 (thiếu 1 trung đội) tăng cường 1 trung đội của đại đội 6 (lên tăng cường cho tiểu đoàn 1 từ lúc pháo địch bắn chuẩn bị) lên 1050 thực hành phản kích sang 1100. Bộ phận phản kích triển khai thành 3 mũi phối hợp với đại đội 2 đánh bật quân địch ra khỏi trận địa, lúc tháo chạy địch phải bỏ lại nhiều xác.
Sau khi khôi phục trận địa, đại đội 2 được tăng cường trung đội của đại đội 6 tiếp tục phòng ngự ở 1100, còn đại đội 1 (thiếu 1 trung đội) phòng ngự ở 1050.
Trong lúc đại đội 1 phản kích, trung đoàn điều đại đội 6 (thiếu 1 trung đội) tăng cường cho tiểu đoàn 1 bố trí ở bình đọ 900-1000 làm lực lượng cơ động và điều 1 trung đội của đại đội 7 lên bố trí ở trận địa đại đội 6, sẵn sàng tăng cường cho tiểu đoàn 1.
Sau khi đột nhập, địch phát triển đánh vào bên trong. Mũi 1 chia làm 2 bộ phận đánh sang sườn đông và lên đỉnh nơi bố trí đại liên. Mũi 2 chia làm 2 bộ phận đánh vào sườn tây nơi có hầm chỉ huy đại đội và bọc phía nam 1100.
Lúc này pháo cối ta vẫn bắn chặn trước tiền duyên và trên đỉnh 1509. Đại đội trưởng đang ở đồi tiền tiêu thấy địch đã kịp thời báo cáo tiểu đoàn đồng thời ra lệnh cho bộ đội chiến đấu.
Trung đoàn nắm được tình hình đã tập trung toàn bộ súng cối của trung đoàn, tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 5 trung đoàn 153 (sắp vào thay phiên) bắn mãnh liệt bao bọc quanh tiền duyên từ tây gò chè đến đông 1050, yêu cầu pháo sư đoàn và quân khu bắn từ bình độ 1200 trở lên. Hoả lực ta từ cối 82mm trở lên bắn cách mép hào 100m, cối 60mm bắn sát mép hào rất chính xác đã chia cắt lực lượng địch phía sau, cô lập bọn đã đột nhập trận địa.
Bên trong điểm tựa, bộ đội ta chiếm giữ các cửa hầm đánh địch. Mũi 1 nhiều tên bị diệt, số còn lại không phát triển được. Mũi 2, một toán 7-8 tên mang bộc phá tới gần hầm đại đội trưởng, chiến sĩ trong hầm phát hiện, dùng lựu đạn tiêu diệt. Cùng lúc đó, đại liên và 12,7mm của ta ở 1050 bắn mãnh liệt vào đội hình địch diệt nhiều tên, số còn sống phải chạy trở ra (1 tên bị thương nằm sát mép hào phía tây, chiến sĩ ta kéo xuống một lcú sau thì chết).
Pháo cối của ta vẫn bắn chặn địch. Tiểu đoàn và trung đoàn đã điều động lực lượng lên tăng viện : đại đội 1 (thiếu 1 trung đội) tăng cường 1 trung đội của đại đội 6 (lên tăng cường cho tiểu đoàn 1 từ lúc pháo địch bắn chuẩn bị) lên 1050 thực hành phản kích sang 1100. Bộ phận phản kích triển khai thành 3 mũi phối hợp với đại đội 2 đánh bật quân địch ra khỏi trận địa, lúc tháo chạy địch phải bỏ lại nhiều xác.
Sau khi khôi phục trận địa, đại đội 2 được tăng cường trung đội của đại đội 6 tiếp tục phòng ngự ở 1100, còn đại đội 1 (thiếu 1 trung đội) phòng ngự ở 1050.
Trong lúc đại đội 1 phản kích, trung đoàn điều đại đội 6 (thiếu 1 trung đội) tăng cường cho tiểu đoàn 1 bố trí ở bình đọ 900-1000 làm lực lượng cơ động và điều 1 trung đội của đại đội 7 lên bố trí ở trận địa đại đội 6, sẵn sàng tăng cường cho tiểu đoàn 1.
09h00 - 13h40 : địch tổ chức 4 lần xung phong, mỗi lần cách nhau từ 1 giờ đến 1 giờ 30 phút. Trước khi xung phong địch dùng pháo cối bắn chế áp và vẫn chia làm 3 mũi như lần một. Cả 4 lần địch đều bị lực lượng ta, có pháo cối chi viện đánh ngay trước trận địa không để vào gần chiến hào. Chúng chỉ kịp lấy xác đồng bọn rồi rút ngay.
15h00 : sau lần xung phong thứ 5 bị ta đánh lui, địch phải rút về 1509 và ngừng bắn pháo.
Ban đêm địch bắn 43 quả pháo sáng để thu dọn chiến trường. Đại đội 1 ra thay phiên cho đại đội 2.
Ban đêm địch bắn 43 quả pháo sáng để thu dọn chiến trường. Đại đội 1 ra thay phiên cho đại đội 2.
KẾT QUẢ CHIẾN ĐẤU
Ta diệt 170 tên, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và 1 đại đội của trung đoàn 603 địch, thu một số vũ khí, quân trang. Địch bỏ lại 30 xác trước chiến hào tiền duyên, 7 xác trong trận địa và trên nóc hầm đại đội trưởng.
Bên ta hy sinh 11 đồng chí, bị thương 21 đồng chí.
Tiêu thụ đạn dược :
Đạn pháo các loại : 2.350 viên. Cối 106,7mm và 120mm : 1.120 viên. Cối 82mm : 3.400 viên. Cối 60mm : 990 viên. Lựu đạn : 1.000 quả.
Tiêu thụ đạn dược :
Đạn pháo các loại : 2.350 viên. Cối 106,7mm và 120mm : 1.120 viên. Cối 82mm : 3.400 viên. Cối 60mm : 990 viên. Lựu đạn : 1.000 quả.
TRẬN ĐÁNH Ở BÌNH ĐỘ 1100 NHÌN TỪ PHÍA TRUNG QUỐC
Ở phần này chúng tôi xin đăng lại hai bản tài liệu: 1/ Tài liệu ghi lại trận đánh ở bình độ 1100 do cán binh Trung Quốc kể lại. 2/ Bản dịch tiếng Hoa về trận đánh 1100 do phía Trung Quốc dịch từ tại liệu của phía Việt Nam.
Xin lưu ý ở đây: tài liệu hành quân Trung Quốc dùng ký hiệu 405 trong trận giao tranh ở bình độ 1100 của phí Việt Nam.
Hai tài liệu này trược trích từ mạng Burningblooddocs của Zhangli do tác giả Simonchan viết.
Xin bấm vào đây để vào mạng chính của Trung Quốc nơi viết về trận đánh tại Bình Độ 1100 (405).
BÍ MẬT LỊCH SỬ: TRẬN CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TRUNG-VIỆT LẦN THỨ HAI TỪ 1984-1989. CHIẾN DỊCH 852: TRUNG QUỐC LẤN 1.5KM VÀO TRONG NỘI ĐỊA VIỆT NAM (bài 7).
Bản đồ chiến dịch 852 của Trung Quốc chiếm các mõm núi 156,
168, 167, 166 nằm sâu 1.5km bên trong Việt Nam.
Hình trích từ mạng của Zhanli - bài viết của Simonchan.
Hình chụp các mõm núi Trung Quốc chiếm của Việt Nam trong chiến dịch
852 ngày 8 tháng 03, 1985. So với bản đồ hành quân ở trên chúng ta
thấy rõ những mõm núi này thuộc chủ quyền của Việt Nam!
Hình trích từ mạng Zhangli
Các sĩ quan Trung Quốc đang bàn định kế họach 852 tiến chiếm
các mõm núi của Việt Nam. Hình tríc từ mạng Zhangli
Qua 6 bài nghiên cứu liên quan đến cuộc chiến tranh biên giới lần thứ hai bắt đầu bằng cuộc giao tranh tại Núi Đất (cứ điểm 1509 - nay là núi Lão Sơn của Trung Quốc), chúng tôi có thể phỏng chừng rằng CSVN đã mất ít nhất là 600km2 diện tích đất đai về tay Trung Quốc! Con số 600km2 là con số hãy còn khiêm nhường, và chúng tôi sẽ chứng minh làm thế nào để có con số này qua những tài liệu thâu lượm được từ phía Trung Quốc trong loạt bài tới. Qua sáu loạt bài vừa qua, chúng ta thấy Trung Quốc tiến chiếm đất đai của Việt nam qua những trận giao tranh như sau:
- Trận giao tranh tiến chiếm núi Phát Cả (Faka shan) vào ngày 5 tháng 5, 1981. Hiện tại chúng tôi chưa định được vị trí ngọn núi này trước kia của Việt Nam là ngọn núi nào trên bản đồ.
- Trận giao tranh tiến chiếm Núi Đất (1509 - Lão Sơn), Núi Bạc (Giải Âm Dương) vào ngày 28 tháng 04, 1984. Có thể Núi Bạc là cứ điểm 722 dựa theo tài liệu hành quân của phía CSVN mà chúng tôi có được.
- Trận giao tranh tiến chiếm cứ điểm 211 (ký hiệu của Trung Quốc), tức là mõm núi A6B (ký hiệu của CSVN) vào ngày 31 tháng 05, 1985. Trong bài thứ 4 khi viết về trận giao tranh này, vị trí cũng như tên Việt Nam của cứ điểm trên bản đồ hành quân của CSVN vẫn chưa định được ; nhưng nay chúng tôi đã tìm thấy. Mõm A6B chính là Núi Không Tên, Mõm núi này nằm cách cột mốc biên giới phân định Trung-Việt 1.5km. Điều này chứng tỏ Trung Quốc đã lấn được ít nhất là 1.5km sâu trong nội địa Việt Nam. Đến nay phía CSVN không hề nhắc đến chủ quyền của ngọn núi này nữa. Xin xem hình đính kèm của núi Không Tên.
- Trận giao tranh tại núi Pha Hán vào ngày 23 tháng 08, 1985. Xin xem bản đồ ở trên
Một chi tiết mới rất quan trọng mà chúng tôi vừa tìm được đó là sự bỏ ngỏ Núi Ŀất (1509 - Lão Sơn) cho Trung Quốc chiếm đóng. Chi tiết này được tiết lộ qua lời của một cán binh CSVN có tham dự trong trận chiến biên giới lần thứ 2. Qua lời tiết lộ này chúng ta sẽ hiểu được thêm về thái độ thò ơ và bán nước của CSVN trong cuộc chiến biên giới lần 2. Lời tiết lộ đó như sau:
Cán binh Trung Quốc chuẫn bị ra quân chiến dịch 852.
"Gửi ....: "Với lại B13 vốn là sư chủ lực thiện chiến của QK nhị"
Tớ không nói cậu đâu, nhưng không biết cậu có nghe đến 982 không? Chính 313 của các cậu làm mất 1509, 982 (E thôi) hồi lên lấy lại được, cũng như trận tớ vừa tả đặc công ở trên, bàn giao lại cho 313, vòng được khác (đi sâu vào đất TQ) về đến nơi đã thấy lính đơn vị 313 nhận bàn giao ở TX rồi. Hình như Tâu nó lên lấy lại không thấy bóng một anh lính VN nào, mặc dù nó cũng sợ chần pháo gần 1 ngày trước khi lên. Từ đó 1509 bị chiếm cho đến lúc tớ ra quân. Thực ra cũng thông cảm cho lính 313 hồi đấy. Nhiều ông đi nghĩa vụ (3 năm) mà ở đã 7 năm trên đó rồi! (nhưng những ai xem thông tin ở đâu nói lính VN chết nhiều ở 1509 thì không có đâu - tớ khẳng định lại lần nữa, hồi ấy ta chẳng có đủ nhiều quân trên các điểm cao ấy để mà chết như vậy đâu - mà ở đây nói F hay E thì chỉ là đơn vị thuộc E hay F thôi, ai đã từng ở trên ấy mới thấy là chuẩn bị lực lượng, hậu cần ở cái khu vực ấy khó thế nào rồi, còn phía Tầu thì nó làm ngay đường xe ô tô ngầm lên thẳng trên 1509)."
Tớ không nói cậu đâu, nhưng không biết cậu có nghe đến 982 không? Chính 313 của các cậu làm mất 1509, 982 (E thôi) hồi lên lấy lại được, cũng như trận tớ vừa tả đặc công ở trên, bàn giao lại cho 313, vòng được khác (đi sâu vào đất TQ) về đến nơi đã thấy lính đơn vị 313 nhận bàn giao ở TX rồi. Hình như Tâu nó lên lấy lại không thấy bóng một anh lính VN nào, mặc dù nó cũng sợ chần pháo gần 1 ngày trước khi lên. Từ đó 1509 bị chiếm cho đến lúc tớ ra quân. Thực ra cũng thông cảm cho lính 313 hồi đấy. Nhiều ông đi nghĩa vụ (3 năm) mà ở đã 7 năm trên đó rồi! (nhưng những ai xem thông tin ở đâu nói lính VN chết nhiều ở 1509 thì không có đâu - tớ khẳng định lại lần nữa, hồi ấy ta chẳng có đủ nhiều quân trên các điểm cao ấy để mà chết như vậy đâu - mà ở đây nói F hay E thì chỉ là đơn vị thuộc E hay F thôi, ai đã từng ở trên ấy mới thấy là chuẩn bị lực lượng, hậu cần ở cái khu vực ấy khó thế nào rồi, còn phía Tầu thì nó làm ngay đường xe ô tô ngầm lên thẳng trên 1509)."
Tở đã nói rồi còn gì, không trách cậu, mà cũng không trách 313. Họ nói 313 đã được hứa sẽ được đổi, nhưng mãi không đổi, chắc vì vậy lính mới bỏ chốt. Ŀầu năm 85 hỏ cũng nói tháng 10 bọn tớ được xuống nhưng tớ ở trên đó đến gần hết tháng 12. Hồi mới lên, đến trận địa bắn thẳng (đầu tiên là 76 ly 2, sau là 82 (các cậu nói 85) gặp mấy cậu pháo thủ của 313 đã ở lính 7 năm (nghĩa vụ chỉ có 3 năm)!
Những năm đó, trên hầm thì tiếng súng nổ ầm ầm, nhưng dưói TX thì xe cúp chạy ầm ầm và các quán cà phê mà vẫn nhạc vàng, đèn mầu nhấp nháy. Sư tương phản quá lớn, không như thời đánh Mỹ, đâu đâu cũng đều đồng cam cộng khổ!
Những năm đó, trên hầm thì tiếng súng nổ ầm ầm, nhưng dưói TX thì xe cúp chạy ầm ầm và các quán cà phê mà vẫn nhạc vàng, đèn mầu nhấp nháy. Sư tương phản quá lớn, không như thời đánh Mỹ, đâu đâu cũng đều đồng cam cộng khổ!
Qua lời tiết lộ của cán binh CSVN - mà tên của vị này xin được miễn nêu ra - cho thấy chính quyền CSVN hoàn toàn không chú tâm đến việc bảo vệ biên giới trước sự xâm chiếm đất đai của Trung Quốc lần 2. Cán binh biên phòng không được thay thế, toàn dân không được CSVN huy động để chống xâm lăng như cuộc chiến biên giới Trung-Việt lần thứ nhất vào năm 1979. Tưởng cũng nên nhắc lại là năm 1979, CSVN đã huy động cả nước, cả tầng lớp thanh biên ra biên giới đánh Trung Quốc. Không biết bao nhiêu sách Trắng được CSVN tung ra tố cáo chủ nghĩa bá quyỿn Trung Quốc, vậy mà từ năm 1984 đến năm 1989 thì CSVN hoàn toàn giữ thái độ im lặng. Các bộ máy tuyên truyền chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc hoàn toàn im tiếng, lính không được thay thế dù rằng họ đã mãn hạn nghĩa vụ. Câu hỏi đặt ra là tại sao chính quyền CSVN không huy động cả nước như họ đã từng làm vào năm 1979 để bảo vệ biên giới VN? Phải chăng họ đã ngấm ngầm để Trung Quốc lấn chiếm những vùng đất đã được thoả thuận trên bàn thương lượng chính trị, và diện tích nhượng cho Trung Quốc có thể hơn 600km2? CSVN bắt buộc phải trả lời trước quốc dân VN về những phần đất đã mấy hoặc nhượng "miễn phí" cho Trung Quốc?. Chúng tôi thách thức CSVN hãy công bố văn bản hiệp ước biên giới đã ký với Trung Quốc vào năm 2000!
Trong bài thứ 7, chúng tôi đưa ra tài liệu từ phía Trung Quốc về kế hoạch 852 tiến chiếm một loại các mõm núi của Việt Nam vào ngày 8 tháng 03, 1985. Những mõm núi này nằm sâu bên trong nội địa Việt Nam ít nhất là 1.5km, và được Trung Quốc ghi bằng các ký hiệu: 156, 168, 167, 166, và 138.
Theo tài liệu củaTrung Quốc thì họ đã chiếm được tất cả những ngọn núi này; dù rằng phía Việt Nam đã nhiều lần phản kích những vẫn không chiếm lại được. Bản đồ hành quân của TQ cho thấy rất rõ những ngọn núi thuộc chủ quyền của Việt Nam lúc bấy giờ. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam còn chủ quyền những ngọn núi này nữa hay không? Và nếu không thì có phải biên giới Việt-Trung nay được cắm mốc 1.5km lấn vào phần đất của Việt Nam như bản đồ hành quân của TQ.
Chúng tôi chờ đợi sự trả lời từ phía CSVN.
Chiến dịch 852 của Trung Quốc vào ngày 8 tháng 3, 1985 được cán binh Trung Quốc ghi lại đầy đủ với tất cả chi tiết và hình ảnh, xin bấm vào các link dưới đây dể truy cứu. Link được trích từ mạng Zhangli.
Xin bấm vào đây để vào mạng chính của Trung Quồc viết về chiến dịch 852.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét