Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và Lẽ Chính Thống
Ngày 22 Tháng 12 Năm 2003 Kỹ Sư Nguyễn Đình Sài
I. DẪN NHẬP "Quốc Kỳ" - The National Flag - là lá cờ chính thức của một dân tộc sống trên một lãnh thổ do một chính quyền quốc gia quản trị, đuợc đa số dân chúng tín nhiệm trong nghia vụ bảo vệ sự hiện hữu và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia đó.
Ngày xưa, khi tất cả các quốc gia còn trong chế độ quân chủ chuyên chính, thì "đế kỳ" (cờ của vua) cung là biểu tuợng của quốc gia, nhung chỉ đuợc dựng lên tại những noi có vua ngự. Còn các thành quách, biên ải thì dựng cờ của các vị thống lãnh. Ý niệm dùng một lá "quốc kỳ" để biểu tuợng chủ quyền quốc gia trên toàn thể lãnh thổ chỉ mới có về sau này. Quốc kỳ Đan Mạch có nền đỏ và chữ thập trắng, đuợc xem là xua nhất trong lịch sử thế giới, khánh thành vào năm 1219. Quốc kỳ Liên Hiệp Anh "The Union Jack" đuợc quốc hội quân chủ lập hiến thừa nhận năm 1707. Quốc kỳ "Tam Tài" ba sọc đứng xanh, trắng, đỏ của Pháp xuất hiện cùng với cuộc cách mạng nhân dân năm 1789. Quốc kỳ Mỹ đã đuợc công bố qua đạo luật First Flag Act của Quốc Hội vào năm 1777, nhung khác hẳn với quốc kỳ hôm nay, với một nền gồm 7 sọc đỏ, 6 sọc trắng, và một hình chữ nhật màu xanh đậm phía trên cờ góc trái, trên đó có một vòng tròn gồm 13 sao trắng tuợng trung cho 13 tiểu bang sáng lập ra quốc gia Hoa Kỳ. Qua nhiều lần thay đổi với số luợng tiểu bang ngày càng gia tăng, vòng tròn sao trắng đuợc sắp thành nhiều hàng thẳng. Ngày 4 tháng 7, 1958 quốc kỳ Mỹ có 50 ngôi sao trắng với sự gia nhập liên bang của Alaska và Hawaii. Đa số những lá quốc kỳ khác chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ 20, khi các quốc gia bắt đầu chuyển hóa từ chế độ quân chủ sang dân chủ, cần có quốc kỳ tiêu biểu cho quốc gia và dân tộc chứ không chỉ riêng cho đế chế mà thôi.
Từ khoảng hậu bán thế kỷ 19 đến nay, Việt Nam cung đã thay đổi khoảng một chục lá "quốc kỳ". Đáng chú ý nhất là hai lá cờ "nền vàng ba sọc đỏ" (gọi tắt là Cờ Vàng) và cờ "nền đỏ sao vàng" (gọi tắt là Cờ Đỏ) đã có một lịch sử tuong tranh từ hon 5 thập niên qua. Từ năm 1954 đến 1975, hai lá cờ này đã là hai biểu tuợng của sự chia đôi đất nuớc thành hai miền Nam, Bắc Việt Nam, và đuợc dùng làm lá "quốc kỳ" của mỗi miền. Ba muoi năm chiến tranh vì nỗ lực của đảng CSVN muốn xâm chiếm miền Nam đã gây nên nhiều chết chóc hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử dân tộc. Sau năm 1975, với sự kiện đảng CSVN chiếm trọn vẹn miền Nam, thì Cờ Đỏ đã ngự trị vùng trời Việt Nam và tại trụ sở các cơ quan quốc tế mà chế độ Hà Nội là thành viên. Cũng từ năm 1975, với hàng triệu nguời tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới, Cờ Vàng vẫn tiếp tục tung bay tại hải ngoại, tất cả những noi có cộng đồng nguời Việt lưu vong tìm tự do cu ngụ. Đó là một sự thật, không một ai có thể biện giải khác đi đuợc.
Trong vòng vài năm qua, có một số bài viết về hai lá Cờ Vàng và Cờ Đỏ xuất hiện trên các diễn đàn sách, báo, và internet. Lịch sử về Cờ Đỏ có thể đuợc dễ dàng tìm thấy trên các websites của đảng Cộng Sản Việt Nam và của chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghia Việt Nam. Các bài viết về lịch sử Cờ Vàng có thể đuợc tìm thấy qua các sách báo xuất bản truớc năm 1975 và một số bài viết đuợc phổ biến rộng rãi tại hải ngoại trong vài năm qua.
Tất cả các tài liệu đuợc trích dẫn ở cuối bài đều có những chi tiết khác nhau về nguồn gốc cũng như ý nghĩa của lá Cờ Vàng và Cờ Đỏ. Ngoài ra, lại có một số tài liệu của nguời ngoại quốc cho thấy Cờ Vàng đã hiện hữu từ cuối thế kỷ 19. Các tài liệu này đuợc trình bày khá công phu và khoa học, nhưng lại không nêu xuất xứ để kiểm chứng thêm. Đã thế, chế độ cầm quyền hiện hữu luôn luôn muốn vinh danh thành quả của chế độ và nỗ lực khỏa lấp hay hủy hoại những gì liên hệ đến phe chiến bại, đưa đến tình trạng đáng buồn là các sử sách trong và ngoài nuớc mâu thuẫn nhau về các dữ kiện trong các thập niên từ 1930 trở về sau.
Chính vì thế, nhu cầu tổng luợc, thống nhất hóa sử liệu về quốc kỳ Việt Nam đang trở thành cần thiết. Với định huớng đó, trong bài suu khảo này, nguời viết có tâm nguyện trình bày những dữ kiện khách quan về lịch sử những lá cờ từng đuợc toàn thể hay một phần dân Việt sử dụng làm "quốc kỳ". Những tài liệu góp nhặt sau đây, tuy dựa vào các sử liệu đã hiện hữu, nhưng đuợc kèm theo những đối chiếu, phân tích, giải thích, và chọn lọc, để mỗi dữ kiện có đuợc căn nguyên trung thực của nó. Ước mong rằng đóng góp nhỏ mọn này sẽ phần nào đuợc hữu dụng cho các thế hệ mai sau.
II. NHỮNG LÁ QUỐC KỲ TỪ ĐẦU THẾ KỶ 19 ĐẾN NAY
Thế hệ trẻ Việt Nam ngày hôm nay muốn tìm hiểu về lá quốc kỳ chính thống của dân tộc Việt Nam trong hơn 100 năm qua đã và đang bối rối vì sự tương phản cũng như nguồn gốc và ý nghĩa của mỗi lá cờ. Vì vậy, đi tìm nguyên khởi của mỗi lá cờ đó là tìm về lịch sử biến thiên của dân tộc. Sau đây là tóm luợc bối cảnh lịch sử cấu thành và ý nghĩa của mỗi lá cờ đuợc tìm thấy trong một hay nhiều tài liệu trích dẫn ở cuối bài.
1. Long Tinh Kỳ: Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đình Nhà Nguyễn.
* Nền vàng biểu hiệu hoàng đế và sắc tộc dân Việt
* Chấm đỏ biểu hiệu phuong nam
* Tua xanh biểu hiệu đại duong, vẩy rồng
Đối chiếu với các tài liệu đuợc tham khảo thì lá quốc kỳ đầu tiên trong thời nhà Nguyễn đã đuợc đặt tên bằng tiếng Hán là "Long Tinh Kỳ". (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt Nam: Ý nghia của các chữ Hán như sau: Kỳ là cờ. Long là Rồng, biểu tuợng cho hoàng đế, có màu vàng. Râu tua màu xanh duong chung quanh tuợng trung cho Tiên và cung là màu đại duong, noi Rồng cu ngụ. Tinh có nghia là ngôi sao trên trời, mà cung có nghia là màu đỏ. Màu đỏ còn biểu tuợng cho phuong Nam và cho lòng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phuong Nam vùng nhiệt đới.)
Cờ Long Tinh đã có từ thời vua Gia Long khi mới thống nhất son hà và lên ngôi hoàng đế vào năm 1802. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn chưa có bang giao quốc tế với các nuớc Tây phương, nên Long Tinh Kỳ đuợc xem là "Đế Kỳ". Đế kỳ khác quốc kỳ ở chỗ:
- Đế kỳ là cờ của nhà vua, vua ở đâu thì đế kỳ treo hay dựng nơi đó.
- Quốc kỳ là biểu tuợng của quốc gia, treo tại các nơi có cơ quan công quyền chứ không chỉ ở chốn hoàng triều.
Năm 1863, sau khi Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản thụ mệnh vua Tự Đức đi sứ sang Pháp trở về, thấy Pháp chào quốc kỳ Tam Tài trong các buổi lễ, nên ý niệm dùng Long Tinh Kỳ làm "quốc kỳ" mới khởi đầu.
Năm 1885, truớc âm muu đô hộ của thực dân Pháp đã lộ liễu quá rõ, triều đình nhà Nguyễn không còn chịu nổi áp lực ngoại xâm, Phụ Chính Đại Thần Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công quân Pháp. Cuộc tấn công bị thất bại, thủ đô Huế bị thất thủ. Ông phò vua Hàm Nghi trốn chạy khỏi hoàng thành, ra Quảng Trị, rồi sau đó lên căn cứ Tân Sở, miền núi Truờng Sơn, giáp biên giới Lào-Việt, để tiếp tục chống Pháp. Triều đình mang theo lá cờ Long Tinh để thể hiện sự hiện diện của vua Hàm Nghi và cũng để hiệu triệu quốc dân huởng ứng phong trào "Cần Vương" (Cần Vương nghĩa là cứu viện vua). Nhiều nhà ái quốc đã huởng ứng phong trào Cần Vương, và nổi lên chống Pháp khắp nơi từ nam chí bắc, mà lịch sử cận đại còn ghi rõ như các cuộc khởi nghĩa của các anh hùng Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật, v.v... Họ dựng lên những lá "Long Tinh Kỳ" tại bộ chỉ huy cũng như tiền đồn, để xác quyết sự hưởng ứng của họ đối với hịch Cần Vuong. (Ghi chú Việt Sử Toàn Thư Trang 467: "Từ Trung ra Bắc, cờ khởi nghĩa bay khắp nơi"). Chính vì vậy mà sử sách thế giới mới ghi nhận sự hiện hữu của lá Cờ Long Tinh vào năm 1885, mặc dù nó đã đuợc dùng làm đế kỳ từ đầu thế kỷ 19.
2. Đại Nam Quốc Kỳ
Nuớc Việt ta từ thời lập quốc đến đầu triều Nguyễn đã có nhiều quốc hiệu. Từ năm 1010, vua Lý Thái Tổ khai sáng triều đại nhà Lý thì đổi quốc hiệu Đại Cồ Việt thời Đinh Bộ Linh thành ra Đại Việt. Quốc hiệu này vẫn đuợc giữ nguyên qua nhiều triều đại Trần, Hồ, Lê, cho đến cuối triều đại Tây Sơn vào đầu thế kỷ 19. Tuy vậy, các triều đại Trung Hoa không hề chấp nhận quốc hiệu Đại Việt mà vẫn gọi nuớc ta là "An Nam", ngụ ý một nuớc Nam đuợc trị cho yên và tùng phục nguời Hán, không còn quật cuờng nữa. Khi vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802, nhà vua sai sứ sang Tàu cầu phong và xin lấy quốc hiệu là Nam Việt. Tuy nhiên, Thanh triều nghi đến tên Nam Việt vốn là quốc hiệu từ thời vua Triệu Đà vào năm 207 truớc Công Nguyên (BC). Lúc bấy giờ, Nam Việt còn bao gồm hai tỉnh lớn Quảng Đông, Quảng Tây, và đảo Hải Nam. Sau Công Nguyên (AD) thì các đất ấy đã bị nguời Hán chiếm mất. Đến thế kỷ 18, Quang Trung Hoàng Đế, một anh hùng bách chiến bách thắng của dân tộc Việt đã định đòi nhà Thanh trả lại các vùng này, song chưa thành công thì ông đã tạ thế lúc mới 40 tuổi.
Khi vua Gia Long thống nhất son hà, muốn đổi quốc hiệu thành Nam Việt, Thanh triều nhớ lại lời yêu sách của vua Quang Trung, nên lo ngại và không chấp thuận. Để giữ hòa khí, Thanh triều mới tráo đổi chữ Việt ra truớc chữ Nam để cho khỏi lầm với tên cũ. Vì thế, nuớc ta có quốc hiệu là Việt Nam kể từ năm 1804.
Năm 1820, vua Minh Mạng nối ngôi cha, mở mang bờ cõi rộng lớn về phía tây và phía nam. Minh Mạng cũng sai sứ sang Tàu xin tấn phong và xin đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nuớc Nam rộng lớn.
Tuy nhiên Thanh triều đã không chính thức chấp thuận cho vua Minh Mạng đổi quốc hiệu mới thành Đại Nam Quốc. Mãi đến gần hai thập niên sau, nhân nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đã quyết định đơn phuương đổi tên nuớc thành Đại Nam và chính thức công bố tên mới vào ngày 15 tháng 2, 1839. Quốc hiệu này đã đuợc dùng trong đời vua Tự Đức và các đời vua kế tiếp. Một số tác phẩm nổi tiếng vào thời đó đã mang tên Đại Nam. Điển hình là bộ sách "Đại Nam Thực Lục Chính Biên" và bộ "Đại Nam Nhất Thống Chí" do Quốc Sử Quán triều vua Tự Đức soạn ra, tổng hợp các công trình sử sách từ các đời vua truớc.
Trong lúc đó, thì nguời Pháp cung theo sử sách của Tàu, vẫn gọi nuớc ta là "Annam", và cũng cùng ngụ ý tương tự như nguời Tàu, để "yên trị" nguời Việt.
Năm 1885, vì cờ Long Tinh theo vua Hàm Nghi vào bưng kháng Pháp, nên nguời Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ làm quốc kỳ nữa. Triều đình Đồng Khánh phải chế ra lá cờ mới. Lá cờ mới cung có nền vàng, nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán "Đại Nam" mang tên quốc hiệu nuớc ta lúc bấy giờ, tức là "Đại Nam Kỳ". Tuy nhiên, những nguời tinh thông chữ Hán, khi nhìn thoáng qua lá cờ mới đều nhận thấy không hoàn toàn giống các nét chữ "Đại" và "Nam", nên không ai có thể quả quyết rằng lá cờ ấy liên hệ với quốc hiệu Đại Nam.
Sau đây là hình lá cờ Đại Nam, đuợc tìm thấy qua tài liệu của nguời Tây phương.
Đại Nam Kỳ (1885-1890)
* Nền vàng
* Hai chữ Đại Nam màu đỏ & xoay 90o ngược vị trí đối diện
Khi vua Gia Long thống nhất son hà, muốn đổi quốc hiệu thành Nam Việt, Thanh triều nhớ lại lời yêu sách của vua Quang Trung, nên lo ngại và không chấp thuận. Để giữ hòa khí, Thanh triều mới tráo đổi chữ Việt ra truớc chữ Nam để cho khỏi lầm với tên cũ. Vì thế, nuớc ta có quốc hiệu là Việt Nam kể từ năm 1804.
Năm 1820, vua Minh Mạng nối ngôi cha, mở mang bờ cõi rộng lớn về phía tây và phía nam. Minh Mạng cũng sai sứ sang Tàu xin tấn phong và xin đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nuớc Nam rộng lớn.
Tuy nhiên Thanh triều đã không chính thức chấp thuận cho vua Minh Mạng đổi quốc hiệu mới thành Đại Nam Quốc. Mãi đến gần hai thập niên sau, nhân nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đã quyết định đơn phuương đổi tên nuớc thành Đại Nam và chính thức công bố tên mới vào ngày 15 tháng 2, 1839. Quốc hiệu này đã đuợc dùng trong đời vua Tự Đức và các đời vua kế tiếp. Một số tác phẩm nổi tiếng vào thời đó đã mang tên Đại Nam. Điển hình là bộ sách "Đại Nam Thực Lục Chính Biên" và bộ "Đại Nam Nhất Thống Chí" do Quốc Sử Quán triều vua Tự Đức soạn ra, tổng hợp các công trình sử sách từ các đời vua truớc.
Trong lúc đó, thì nguời Pháp cung theo sử sách của Tàu, vẫn gọi nuớc ta là "Annam", và cũng cùng ngụ ý tương tự như nguời Tàu, để "yên trị" nguời Việt.
Năm 1885, vì cờ Long Tinh theo vua Hàm Nghi vào bưng kháng Pháp, nên nguời Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ làm quốc kỳ nữa. Triều đình Đồng Khánh phải chế ra lá cờ mới. Lá cờ mới cung có nền vàng, nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán "Đại Nam" mang tên quốc hiệu nuớc ta lúc bấy giờ, tức là "Đại Nam Kỳ". Tuy nhiên, những nguời tinh thông chữ Hán, khi nhìn thoáng qua lá cờ mới đều nhận thấy không hoàn toàn giống các nét chữ "Đại" và "Nam", nên không ai có thể quả quyết rằng lá cờ ấy liên hệ với quốc hiệu Đại Nam.
Sau đây là hình lá cờ Đại Nam, đuợc tìm thấy qua tài liệu của nguời Tây phương.
Đại Nam Kỳ (1885-1890)
* Nền vàng
* Hai chữ Đại Nam màu đỏ & xoay 90o ngược vị trí đối diện
Chúng ta hãy nhìn lại hai chữ Đại Nam viết bằng Hán tự sau đây:
Bây giờ, chúng ta mới nhận thấy hai chữ Đại và Nam xoay chiều theo kiểu trên khá giống lá quốc kỳ nuớc ta vào năm 1885-1890. Tuy vậy, chữ bên trái trên lá cờ khá giống chữ Đại, trong khi chữ bên phải trên lá cờ không hoàn toàn giống chữ Nam. Nguyên do có thể là vì nguời ngoại quốc đã không rành thuật viết chữ Hán, nên đã thiếu sót vài nét khi chuyển thành hình vẽ của chữ Nam trên các websites của họ. Cũng có thể đó chỉ là sự cố ý của triều đình Đồng Khánh khi thực hiện lá cờ, vì vua Đồng Khánh do Pháp đưa lên ngôi, là một ông vua bù nhìn, thể chất yếu đuối, thiếu tinh thần tự chủ, nên không dám làm mất lòng nhà Thanh cũng như chính phủ bảo hộ Pháp. Vì thế triều đình đành phải xoay đổi đi một chút.
_____________________________________ Phần 1
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét